Đồng hành vì sự nghiệp phát triển giáo dục hướng nghiệp vùng biên giới xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
22/05/2026
Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của nhiệm vụ khoa học: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường phổ thông vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay” do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ, TS. Lê Thị Mùi làm chủ nhiệm, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học là tổ chức chủ trì, vừa qua, đoàn công tác đã triển khai đợt khảo sát thực địa tại xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tại đây, đoàn đã có các buổi làm việc với đội ngũ cán bộ quản lý và các bộ phận chuyên môn của xã nhằm trao đổi thông tin, nắm bắt thực trạng, từ đó làm rõ những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Ảnh 1: Đoàn công tác tham gia cuộc họp cùng đại diện UBND xã Mường Nhé (ngày 07/05/2026)
Mường Nhé là xã biên giới vùng cao đặc biệt khó khăn, đóng vai
trò quan trọng về an ninh - quốc phòng khi tiếp giáp với hai nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Với diện tích tự nhiên 489,47
km² (quy mô lớn thứ hai toàn tỉnh Điện Biên), địa hình nơi đây bị chia cắt mạnh
bởi hệ thống đồi núi dốc, khe sâu và suối lớn. Đây là không gian cư trú đa tộc
người với 24.294 nhân khẩu tại 39 bản và 3 tổ dân cư, trong đó đồng bào dân tộc
thiểu số chiếm trên 97% dân số, bao gồm người Mông (chiếm đa số), Thái, Hà Nhì,
Kinh, Mường, Dao, Tày, Nùng, Giáy, Cống và Si La.
Mặc dù điều kiện kinh tế
- xã hội của địa phương đã có những chuyển biến tích cực, song thực tế cho
thấy, không ít vấn đề đang đặt ra. Phương thức sản xuất của một bộ phận dân cư
hiện nay còn mang nặng tính tự cung tự cấp, người dân vẫn dịch chuyển không
gian canh tác theo nhu cầu sản xuất. Đặc điểm này tác động trực tiếp đến tính
ổn định đời sống và cơ hội tiếp cận giáo dục, định hướng nghề nghiệp liên tục
của học sinh. Bên cạnh đó, hạ tầng giao thông liên bản chưa đồng bộ, thường sạt
lở trong mùa mưa, tạo rào cản cho lưu thông hàng hóa và giao thương. Dù có sự
chênh lệch về trình độ dân trí giữa các nhóm tộc người nhưng hầu hết các cộng
đồng địa phương đều thể hiện tinh thần hiếu học và định hướng tích cực đối với
việc tiếp thu kiến thức mới. Nhu cầu tham gia học tập, nâng cao năng lực và
tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật khuyến nông - khuyến lâm của người dân là rất
lớn. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để nhà trường và các lực lượng xã hội
đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp, giúp thế hệ trẻ chủ động thay đổi tư
duy sản xuất, lựa chọn sinh kế phù hợp và từng bước tiếp cận hiệu quả với nền
kinh tế thị trường.
Ảnh 2: Toàn cảnh trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Mường Nhé
Song hành với những chuyển biến về sinh kế, mạng lưới giáo dục
địa phương cũng ghi nhận những kết quả khả quan. Tính đến Quý I năm 2026, xã
Mường Nhé đã hoàn thiện hệ thống trường lớp từ bậc Mầm non đến Trung học cơ sở,
đạt tỷ lệ phủ kín 100% tại các bản. Toàn xã hiện quy tụ 12 trường học với hơn
7.600 học sinh, trong đó học sinh dân tộc thiểu số chiếm trên 97%. Việc từng
bước phủ sóng điện lưới và internet tại các điểm trường chính đã tạo tiền đề
thuận lợi cho công tác chuyển đổi số trong giáo dục.
Tuy nhiên, thực tế phát triển giáo dục tại vùng biên vẫn đối mặt
với nhiều thách thức. Một số điểm trường lẻ hiện vẫn rất khó khăn do hệ thống
điện lưới, nước sạch và sóng điện thoại chưa hoàn thiện; các phòng bán trú cho
học sinh cùng nhà công vụ cho giáo viên còn thiếu hoặc xuống cấp. Những hạn chế
về hạ tầng học đường và đặc thù kinh tế tự cấp đã dẫn đến thực trạng đáng lo
ngại: một bộ phận học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở có xu hướng dừng
học văn hóa để tìm kiếm việc làm tự do tại các tỉnh miền xuôi, thay vì tiếp tục
bậc Trung học phổ thông hoặc tham gia đào tạo nghề bài bản.
Ảnh 3: Toàn cảnh trường Phổ thông Dân tộc nộitrú Trung học phổ thông Mường Nhé
Trước thực trạng đó, thông qua dữ liệu khảo sát và tham vấn các
cơ quan chức năng địa phương, nhóm nghiên cứuđã nhận diện một cách hệ thống các
nhóm yếu tố tác động đến quyết định định hướng nghề nghiệp của học sinh, gồm:
giá trị văn hóa truyền thống, quan niệm nghề nghiệp của gia đình và áp lực từ
thị trường lao động vùng biên giới. Kết quả phân tích cơ cấu ngành nghề, nhu
cầu nhân lực tại chỗ và các chính sách hỗ trợ hiện hành cho thấy khu vực biên
giới sở hữu những sắc thái văn hóa - xã hội rất riêng biệt. Bằng cách đặt địa
bàn này trong mối tương quan so sánh với các vùng miền khác, nhiệm vụ tập trung
làm rõ những đặc điểm về điều kiện sống và tâm lý tộc người, từ đó hướng tới xây
dựng các giải pháp mang tính đặc thù và có tính khả thi cao.
Kết quả bước đầu từ các buổi làm việc với chính quyền địa
phương, các bộ phận chuyên môn và các cơ sở giáo dục nòng cốt tại xã Mường Nhé
không chỉ giúp đoàn công tác nhận diện các rào cản về hạ tầng vật chất và tâm
lý tộc người, mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong việc giải quyết vấn đề an
sinh xã hội vùng biên. Trên cơ sở xác định công tác hướng nghiệp cho học sinh
DTTS không thể tách rời đặc trưng văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội. Trong
giai đoạn tiếp theo, nhiệm vụ sẽ triển khai các hoạt động nghiên cứu sâu và can
thiệp thí điểm mô hình hướng nghiệp trực tiếp tại một số trường phổ thông trọng
điểm vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để
nhiệm vụ hoàn thiện hệ giải pháp đột phá, góp phần kiến nghị chính sách vĩ mô
tới các Bộ, ban ngành Trung ương và địa phương nhằm nâng cao chất lượng định
hướng phát triển nghề nghiệp sớm cho thế hệ trẻ vùng biên, đảm bảo nguồn nhân
lực sau khi ra trường có đủ năng lực thích ứng với thị trường lao động; từ đó,
chuyển hóa nguồn lực giáo dục thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, góp phần củng cố, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia nơi biên cương.
Hoàng Phương Mai
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Dân tộc học và Tôn giáo học