Cuộc họp tham vấn khu vực chia sẻ kết quả nghiên cứu về các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) để giải quyết các thách thức về mất an ninh nguồn nước và tình trạng dễ bị tổn thương về mặt xã hội ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông
Ngày 5/3/2026, tại Hội trường Hồng Hà, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội), Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (IHFGS) đã tổ chức Cuộc họp tham vấn khu vực và chia sẻ kết quả nghiên cứu về các giải pháp dựa vào thiên nhiên (Nature-based Solutions – NbS) nhằm giải quyết các thách thức về an ninh nguồn nước và tình trạng dễ bị tổn thương xã hội tại lưu vực hạ lưu sông Mê Kông.

Sự kiện được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, kết nối ba điểm cầu tại Việt Nam, Thái Lan và Campuchia, với sự tham gia của hơn 90 đại biểu tham gia trực tiếp tại các đầu cầu ở Hà Nội, Việt Nam; Nong Khai, Thái Lan; và Stung Treng, Campuchia và hơn 60 đại biểu đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và các đối tác khu vực tham dự online.

Anh-tin-bai

Các đại biểu tham dự trực tuyến

Cuộc họp được tổ chức trong khuôn khổ Thỏa thuận hợp tác nghiên cứu quốc tế “Kiến thức về các giải pháp dựa vào thiên nhiên để giải quyết các thách thức về mất an ninh nguồn nước và tình trạng dễ bị tổn thương xã hội ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông: các nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Stung Treng, Campuchia, tỉnh Nong Khai, Thái Lan và tỉnh An Giang, Việt Nam. Dự án do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì, TS Phan Thanh Thanh làm chủ nhiệm phối hợp với Đại học Khon Kaen (Thái Lan) và tổ chức My Village (Campuchia), với sự hỗ trợ tài chính từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Úc và Hiệp hội Khoa học Xã hội Châu Á. Cuộc họp cũng nhận được sự hợp tác và hỗ trợ chuyên môn từ Chương trình SUMERNET thuộc Viện Môi trường Stockholm khu vực châu Á (SEI Asia) và Khoa Khoa học Xã hội và Phát triển, Đại học Chiang Mai (Thái Lan).

Tăng cường hợp tác khu vực để giải quyết thách thức về nước và biến đổi khí hậu

Phát biểu khai mạc cuộc họp, TS. Trần Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới nhấn mạnh lưu vực sông Mê Kông đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội và sinh kế của hàng chục triệu người dân trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, khu vực này đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên nước, hạn hán, lũ lụt và các biến động môi trường ngày càng gia tăng. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái mà còn tác động trực tiếp đến sinh kế, tạo ra những tổn thương xã hội cho  cộng đồng, đặc biệt là các nhóm yếu thế.

Trong bối cảnh đó, NbS được xem là hướng tiếp cận đầy tiềm năng nhằm kết hợp hài hòa giữa bảo tồn hệ sinh thái, quản lý tài nguyên nước và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước biến đổi khí hậu. TS. Trần Thị Hồng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác nghiên cứu khu vực, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm giữa các quốc gia nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đồng thời góp phần thúc đẩy quản lý bền vững tài nguyên nước trong toàn lưu vực.

Anh-tin-bai

TS. Trần Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới phát biểu khai mạc

Bà Sushmita Mandal, Nghiên cứu viên cao cấp của SUMERNET (Viện Môi trường Stockholm khu vực châu Á), trong phần phát biểu chào mừng đã khẳng định sông Mê Kông không chỉ là một hệ thống sông mà còn là nguồn sống của hàng triệu người dân, cung cấp sinh kế, hệ sinh thái và giá trị văn hóa cho toàn khu vực. Tuy nhiên, hệ thống này đang chịu áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, các hiện tượng cực đoan như hạn hán và lũ lụt, suy thoái môi trường, phát triển hạ tầng và bất bình đẳng xã hội. Theo bà, các giải pháp dựa vào thiên nhiên có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường an ninh nguồn nước, giảm rủi ro thiên tai và cải thiện sinh kế cho cộng đồng. Tuy nhiên, để các giải pháp này thực sự hiệu quả, cần phải xem xét các yếu tố xã hội, quản trị và công bằng, bao gồm câu hỏi về việc ai được hưởng lợi, ai phải chịu chi phí và làm thế nào để đảm bảo các giải pháp mang tính bao trùm và công bằng.

Anh-tin-baiBà Sushmita Mandal, Nghiên cứu viên cao cấp của SUMERNET, Viện Môi trường Stockholm khu vực châu Á phát biểu chào mừng

Chia sẻ kết quả nghiên cứu từ ba quốc gia trong lưu vực Mê Kông

Mở đầu phiên trình bày, TS. Ridhi Saluja, nghiên cứu viên của Chương trình SUMERNET, Viện Môi trường Stockholm khu vực Châu Á (Stockholm Environment Institute-Asia), đã giới thiệu bức tranh tổng quan về việc áp dụng NbS trong khu vực tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng. Nghiên cứu cho thấy NbS đang được triển khai dưới nhiều hình thức đa dạng như phục hồi đất ngập nước, bảo vệ rừng, phát triển nông nghiệp sinh thái, quản lý vùng ngập lũ, phát triển hạ tầng xanh đô thị và các hệ thống canh tác tích hợp. Những giải pháp này không chỉ góp phần giải quyết các vấn đề về lũ lụt, hạn hán và suy giảm chất lượng nước mà còn mang lại nhiều lợi ích đồng thời như cải thiện đa dạng sinh học, tăng khả năng hấp thụ carbon, nâng cao sinh kế và củng cố gắn kết cộng đồng.

Tiếp đó, TS. Phan Thanh Thanh, nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (IHFGS), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đã trình bày tổng quan các kết quả nghiên cứu của dự án. Kết quả cho thấy hiệu quả của NbS phụ thuộc mạnh mẽ vào bối cảnh quản trị, mức độ tham gia của cộng đồng và sự phối hợp giữa các bên liên quan. Những sáng kiến có sự tham gia tích cực của người dân địa phương và có cơ chế quản lý lâu dài thường đạt hiệu quả cao hơn so với các dự án mang tính ngắn hạn.

Chia sẻ kết quả nghiên cứu tại tỉnh An Giang, Việt Nam, TS. Thái Huỳnh Phương Lan, giảng viên và nhà nghiên cứu của Trường Đại học Tôn Đức Thắng, đã trình bày kết quả nghiên cứu từ góc độ Giới, Người khuyết tật và Hòa nhập xã hội (GEDSI). Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc triển khai NbS để thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh nguồn nước. Phụ nữ tham gia tích cực trong các mô hình sinh kế sinh thái như hệ thống canh tác lúa-cá, lúa-sen, cũng như trong các hoạt động chế biến và phát triển chuỗi giá trị nông sản. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, tín dụng và đào tạo kỹ thuật. Vì vậy, việc lồng ghép các nguyên tắc GEDSI trong các chương trình NbS được xem là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các giải pháp này.

Từ điểm cầu Thái Lan, PGS. TS. Aphiradee Wongsiri, giảng viên và nhà nghiên cứu của Trường Đại học Khon Kaen đã chia sẻ kết quả nghiên cứu tại tỉnh Nong Khai. Theo bà, các giải pháp dựa vào thiên nhiên đã được tích hợp trong nhiều hoạt động sinh kế và quản lý tài nguyên của cộng đồng địa phương, bao gồm đa dạng hóa nông nghiệp sinh thái, bảo vệ rừng đầu nguồn, phục hồi vùng đất ngập nước và các biện pháp giữ nước tự nhiên. Những sáng kiến này góp phần tăng khả năng giữ nước của đất, giảm thiểu rủi ro thiên tai và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Tuy nhiên, các rào cản về thể chế, sự phân mảnh trong quản lý và hạn chế về nguồn lực tài chính vẫn là những thách thức lớn đối với việc mở rộng các mô hình NbS.

Từ điểm cầu Campuchia, TS. Narith Por, đại diện Tổ chức My Village, đã trình bày kết quả nghiên cứu tại tỉnh Stung Treng. Nghiên cứu cho thấy các cộng đồng địa phương đang phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường ngày càng nghiêm trọng, bao gồm thay đổi dòng chảy sông, hạn hán kéo dài, suy giảm chất lượng nước và xói lở bờ sông. Trong bối cảnh đó, các giải pháp dựa vào thiên nhiên như quản lý thủy sản cộng đồng, bảo vệ hệ sinh thái ven sông và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên đang được triển khai như những phương thức giúp tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước các rủi ro khí hậu và môi trường.

Kết thúc phiên trình bày, bà Võ Thị Thu, đại diện Dự án AQUADAPT-Nature, đã trình bày nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản dựa vào thiên nhiên và các khía cạnh giới tại Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Bài trình bày nhấn mạnh tiềm năng của các mô hình nuôi trồng thủy sản thân thiện với hệ sinh thái trong việc vừa bảo vệ môi trường, vừa tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ.

Anh-tin-bai

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Thúc đẩy đối thoại chính sách và hợp tác khu vực

Phiên thảo luận được điều phối bởi ông Boripat Lebel (qua Zoom Chat)  đã tạo cơ hội để các nhà khoa học, nhà quản lý và các bên liên quan trao đổi về các kết quả nghiên cứu, đề xuất các khuyến nghị chính sách. Các đại biểu nhấn mạnh r để phát huy tiềm năng của các giải pháp dựa vào thiên nhiên, cần tăng cường sự phối hợp giữa khoa học, chính sách và thực tiễn; thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương; đồng thời đảm bảo các giải pháp được thiết kế theo hướng công bằng, bao trùm và phù hợp với bối cảnh địa phương. Các ý kiến cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp NbS vào các chiến lược quốc gia về quản lý tài nguyên nước, nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời tăng cường hợp tác xuyên biên giới trong quản lý lưu vực sông Mê Kông.

Phát biểu bế mạc cuộc họp, GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, đánh giá cao sự tham gia tích cực của các nhà khoa học, chuyên gia và các đối tác khu vực. Ông nhấn mạnh rằng các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các khuyến nghị chính sách và thúc đẩy áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên nhằm tăng cường an ninh nguồn nước, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu các rủi ro xã hội tại khu vực lưu vực sông Mê Kông.

Anh-tin-bai

GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới phát biểu bế mạc cuộc họp

 Cuộc họp tham vấn khu vực không chỉ là diễn đàn chia sẻ kết quả nghiên cứu mà còn là cơ hội quan trọng để thúc đẩy hợp tác khoa học và đối thoại chính sách giữa các quốc gia trong khu vực, hướng tới các giải pháp bền vững cho quản lý tài nguyên nước và phát triển thích ứng với biến đổi khí hậu tại lưu vực sông Mê Kông.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Phan Thanh Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1