Cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên tầm vóc và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay
Cách đây tròn 80 năm, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên tại Việt Nam được tổ chức. Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức sau khi mới giành được chính quyền, nhất là sự chống phá quyết liệt, thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 90% cử tri cả nước đã đi bỏ phiếu và bầu ra 333 đại biểu vào Quốc hội khóa I. Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc khi lần đầu tiên Nhân dân được thực hiện quyền công dân, được tự tay bầu những đại biểu mà mình tin tưởng vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Thành công của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên không chỉ mở ra một trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn mang tầm vóc và giá trị to lớn đối với sự nghiệp Đổi mới hiện nay. 

1. Dấu ấn sâu đậm trong tiến trình lịch sử dân tộc

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[1].

Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phải tổ chức cuộc Tổng tuyển cử của nước Việt Nam độc lập, “đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”[2]. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu, đưa ra đề nghị có giá trị như một tuyên bố lập hiến: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...”[3].

Ngày 8-9-1945, thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 14/SL quy định thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử và sẽ thành lập một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp gồm 7 người. Sắc lệnh ghi rõ: “…nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân Đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên. Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân Đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hoà. Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân Đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm”[4].

Nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử trong đời sống chính trị của nhân dân Việt Nam, các lực lượng đối lập ra sức chống phá. Điển hình là các báo Đồng tâm, Thiết thực, Việt Nam... đăng tải những bài viết có nội dung bôi nhọ Đảng Cộng sản, nói xấu Việt Minh, phá hoại Tổng tuyển cử, lập luận rằng trình độ dân trí của nhân dân Việt Nam còn thấp, “chưa biết dùng quyền dân chủ”; do đó, “bọn đầu cơ sẽ lợi dụng. Cuộc Tổng tuyển cử sẽ thất bại”[5]. Hay như các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách dựa vào thế lực Tưởng Giới Thạch đòi lập lại Chính phủ, xoá bỏ chính quyền cách mạng, đòi cho đại diện của họ giữ vị trí cao trong Chính phủ, đòi nắm Bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Quốc phòng…, đòi chiếm 1/3 số ghế trong Quốc hội cũng như Việt Minh.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị chuẩn bị cho Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập. Trên các tờ báo Cứu quốc, Sự thật, Quốc hội... xuất hiện hàng loạt những bài viết về Tổng tuyển cử, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, về vai trò của Quốc hội, vai trò của Hiến pháp… Cổ vũ quần chúng tích cực tham gia Tổng tuyển cử, Báo Cứu quốc gọi đây là dịp thực sự “cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử nghĩa là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết"[6]. Ra đời trong thời kỳ Tổng tuyển cử và phục vụ Tổng tuyển cử, Nhật báo Quốc hội truyền tải thông điệp: Muốn giữ vững độc lập phải đi bầu cử; hãy trân trọng tìm người ứng cử vào Quốc hội; mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt quân thù; ngày tổng tuyển cử là ngày toàn thể dân chúng Việt Nam được quyền tự do định đoạt số phận của mình… Trả lời phỏng vấn về vấn đề Quốc hội sẽ làm những gì cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vốn bản chất là hiện thân của dân tộc, Quốc hội sẽ làm tất cả những gì mà nhân dân mong muốn”[7].

Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời cải tổ, mở rộng thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, để Nguyễn Hải Thần (đại diện Việt Cách) giữ chức Phó Chủ tịch và Trương Đình Tri (đại diện Việt Quốc) giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế. Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 16 thành viên[8] do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã tuyên bố một trong những nhiệm vụ quan trọng là “làm sao cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẵn sàng việc khai Quốc hội”[9].

Ngày 3-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời, kiểm tra lần cuối cùng những công việc của tổng tuyển cử. Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình: “Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ được tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước...”[10]. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên “đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng đứng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta[11].

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra sôi nổi trong cả nước và diễn ra đúng kế hoạch, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Mặc cho các lực lượng chống đối tuyên truyền bôi xấu, phá hoại, nhiều người có tài, đức, thực tâm yêu nước đã tự ứng cử hoặc được các đoàn thể quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi, nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia bầu cử, tạo nên một bầu không khí dân chủ, lành mạnh.

Tại Hà Nội, “hàng chục vạn cử tri đã đi bỏ phiếu (Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội). Trong cuộc bầu cử tại Hà Nội, đã có 172.765 trong tổng số 187.880 người, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu. Sáu trong tổng số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp phiếu nhất là 52,5%, người đạt phiếu cao nhất là Hồ Chí Minh được 169.222 phiếu, tức đạt 98,4%[12]. Mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại của các lực lượng chống đối, song ở miền Bắc, Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Hải Phòng đã có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu. Ở nhiều địa phương như ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây Nguyên…, cuộc bầu cử đã diễn ra dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm phục vụ Tổng tuyển cử (riêng Sài Gòn và Chợ Lớn đã có tới 42 cán bộ và chiến sĩ đã hy sinh, trong đó có Nguyễn Văn Tư - cán bộ của Tổng Công đoàn). Bất chấp mọi sự đánh phá, ở Nam Bộ, Tổng tuyển cử vẫn thu được kết quả tốt đẹp, nhiều tỉnh còn đạt số cử tri đi bỏ phiếu rất cao (Sa Đéc đạt 93,54%, Bạc Liêu đạt 90,97%). Tại Tây Nguyên, thực dân Pháp dùng máy bay ném bom lửa để khủng bố dân chúng, song Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành. Nhìn chung, cuộc Tổng tuyển cử đã được toàn dân tham gia rộng rãi; tại 71 tỉnh thành trong cả nước, đã có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 90-95%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái dân chủ khác nhau, 43% đại biểu không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu thuộc các dân tộc ít người”[13].

Cuộc Tổng tuyển cử là mốc son chói lọi, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, người dân từ thân phận nô lệ đã trở thành công dân của một nước tự do, độc lập, tự quyết định vận mệnh của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ Cộng hoà dân chủ. Đặc biệt, so với nhiều nước trên thế giới thời điểm đó, Việt Nam không những đã trở thành một quốc gia độc lập mà còn có cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. Đó là Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu tượng sinh động của tinh thần yêu nước, truyền thống giữ vững độc lập, tự do của dân tộc; thắng lợi của chính thể dân chủ cộng hoà lần đầu tiên được thiết lập trên đất nước Việt Nam. Nói về thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Tổng tuyển cử đã chứng tỏ cho toàn thế giới biết rằng, “người Việt Nam không chỉ có khả năng tự trị, mà còn biết tự tổ chức một cách dân chủ nữa”[14].

2. Tầm vóc và ý nghĩa đối với sự nghiệp Đổi mới hiện nay

Đã 80 năm trôi qua, nhưng thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên vẫn mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là đối với sự nghiệp Đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đảng ta nhiều lần khẳng định, thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Một là, thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên và sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quá trình hình thành và sự ra đời của Quốc hội là kết tinh của sự lựa chọn đúng đắn, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với những giá trị phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử. Từ Quốc dân Đại hội Tân Trào đến sự ra đời của Quốc hội khóa I và sự vận động phát triển của 15 nhiệm kỳ Quốc hội tiếp theo là quá trình tích lũy tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, được cụ thể hóa từng bước, với những việc làm cụ thể, kịp thời, từ thấp đến cao, phù hợp với diễn biến và yêu cầu của mỗi giai đoạn, đặc biệt là trong sự nghiệp Đổi mới đất nước.

Đặc biệt, “trên lĩnh vực lập hiến, lập pháp, Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp, gắn liền với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Mỗi bản Hiến pháp đều phản ánh trình độ phát triển của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới không ngừng trong tổ chức và vận hành quyền lực Nhà nước. Đặc biệt, việc Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp đã đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử lập hiến, hiến định mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước”. Bên cạnh đó, “Quốc hội ngày càng thể hiện rõ vai trò đi trước một bước về thể chế, chủ động thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; đẩy mạnh đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật, góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, ổn định cho phát triển đất nước”; hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng được đổi mới, đi vào chiều sâu, tập trung vào những vấn đề lớn, bức xúc của đời sống kinh tế - xã hội; trong thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, trí tuệ tập thể và tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và lịch sử...[15].

Hai là, từ kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên đến nay, Quốc hội  luôn là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ngay từ khóa I, trong cơ cấu và cách thức tổ chức của Quốc hội đã thể hiện tính đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân. Quốc hội các khóa tiếp theo luôn bảo đảm tính đại diện cho các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam: “Xuyên suốt chặng đường 80 năm ấy, Quốc hội luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân, xứng đáng là hiện thân sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[16].

Điểm cần nhấn mạnh, với vị trí là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với những quyết sách đúng đắn, kịp thời của Quốc hội đã trực tiếp góp phần to lớn làm cho đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế.

Ba là, sự phát triển của Quốc hội là một quá trình liên tục kế thừa, không ngừng đổi mới và hoàn thiện cả về tổ chức và hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Kinh nghiệm thực tiễn của Quốc hội khóa trước luôn là bài học quý giá cho việc kiện toàn, củng cố, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội khóa sau. Kết quả hoạt động của Quốc hội khóa sau là kết quả của sự kế thừa và phát triển hoạt động của Quốc hội khóa trước. Đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội luôn được tiến hành đồng bộ, có định hướng, mục tiêu rõ ràng, bước đi thận trọng, chắc chắn và mang lại hiệu quả thiết thực. Kết quả đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, nhưng nó được khơi nguồn từ thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên.

Bốn là, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành xuất sắc trọng trách mà nhân dân ủy thác. Quốc hội luôn nắm vững và vận dụng đúng đắn đường lối, quan điểm và các chủ trương của Đảng vào các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tựu trung lại, từ thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên ngày 6-1-1946, trải qua 80 năm hình thành và phát triển (1946-2026), với 15 khóa, Quốc hội Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Phát huy tầm vóc, ý nghĩa và kinh nghiệm từ cuộc bầu của Quốc hội đầu tiên và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong toàn hệ thống chính trị; sự ủng hộ và giám sát của nhân dân; sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Quốc hội Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ phát huy những kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của 80 năm qua, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.587.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.27.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.7.

[4] Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Thư (1994), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.31.

[5] Trần Dân Tiên (1975), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.128.

[6] Báo Cứu quốc, ngày 10-11-1945.

[7] Hồ Chí Minh (1945), Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bản dịch báo La republique, số 4, ngày 28/10/1945, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tr.2.

[8]. Chủ tịch kiêm Ngoại giao Hồ Chí Minh; 2. Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần; 3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ  Võ Nguyên Giáp; 4. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động Trần Huy Liệu; 5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn;  6. Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền; 7. Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tề Nguyễn Tường Long; 8. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố;  9. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh; 10. Bộ trưởng Bộ Y tế Trương Đình Tri; 11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim; 12. Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến; 13. Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng; 14. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè; 15; Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận; 16;  Bộ trưởng không Bộ Nguyễn Văn Xuân.

[9] Báo Cứu quốc, ngày 10-11-1945.

[10] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.166.

[11] Báo Quốc hội, ngày 6-1-1946.

[12] Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Thư (1994), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Sđd, tr.48-49.

[13] Với 333 đại biểu đuợc bầu chính thức (trong đó Bắc Bộ có 152 đại biểu, Trung Bộ có 108 đại biểu, Nam Bộ có 73 đại biểu) và 70 đại biểu không thông qua bầu cử, Quốc hội khoá I gồm 403 đại biểu.

[14] Hồ Chí Minh (1945), Trả lời phỏng vấn: Xung quanh cuộc Tổng tuyển cử, Bản dịch báo La republique, số 1, ngày 23/12/1945, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tr.1.

[15] Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-tong-tuyen-cu-dau-tien-bau-quoc-hoi-viet-nam-102260106102133606.htm

[16] Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-tong-tuyen-cu-dau-tien-bau-quoc-hoi-viet-nam-102260106102133606.htm

Nguồn bài viết: Viện Sử học
TS. Lê Văn Phong
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1