Tính thời sự về quan điểm Phật giáo của Trương Hán Siêu trong bối cảnh đương đại
Cổng Thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bài viết “Tính thời sự về quan điểm Phật giáo của Trương Hán Siêu trong bối cảnh đương đại” của TS. Lê Việt Liên và TS. Lê Cẩm Ly (Viện Nghiên cứu Văn hóa).
Nguồn: hình minh họa tạo bởi Trí tuệ nhân tạo (AI)
Trương Hán Siêu tên tự là Thăng Phủ hoặc Thăng Am, hiệu
Đôn Tẩu, quê ở Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên, nay là phường Phúc
Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Ông làm quan dưới bốn đời vua nhà
Trần là: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông. Ông được biết đến là một nhà
chính trị, nhà thơ, nhà sử học, là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Mặc dù có
nhiều ý kiến tranh luận về quan điểm Phật giáo của ông, nhưng xét ở khía cạnh
nào đó, chúng ta vẫn có thể thấy được tính thời sự trong những quan điểm ấy
trong sự đối sánh với cuộc sống đương đại. Bài viết này điểm qua cuộc đời sự
nghiệp, các di sản văn hóa liên quan đến Trương Hán Siêu, và phân tích quan điểm
Phật giáo của ông để từ đó liên hệ với bối cảnh hiện nay nhằm chứng minh luận
điểm trên.
Trương Hán Siêu: cuộc đời, sự nghiệp và các di sản văn
hóa
Trương Hán Siêu là một danh nhân văn hóa lớn đời Trần.
Ông là người uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn hóa,
pháp chế, du lịch, tôn giáo, môi trường sinh thái... Ông là một trong những người
góp công trong việc xây dựng, tôn tạo, ghi dấu ấn và phát huy giá trị của văn
hóa địa phương tỉnh Ninh Bình đương thời, khơi dậy tinh thần, ý thức và trách
nhiệm bảo vệ và tôn tạo các công trình kiến trúc cổ ở địa phương. Trương Hán
Siêu sáng tác nhiều tác phẩm, phong phú về thể loại, gồm: thơ, ký và phú; trong
đó nổi tiếng nhất là Bạch Đằng giang phú, được xem là áng Thiên cổ hùng ca
trong lịch sử văn học Việt Nam, phản ánh lòng yêu nước và tự hào về truyền thống
bất khuất của dân tộc.
Trương Hán Siêu mất năm 1353, ông được truy tặng chức
Thái phó và được thờ tự ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ông trở thành người Việt thứ
hai được thờ ở Văn Miếu cho đến thời vua Trần Nghệ Tông năm 1371. Điều này đã
chứng minh cho sự ghi nhận tài năng và nhân cách của ông đối với các thế hệ sau
này.
Để ghi nhớ công ơn của Trương Hán Siêu, có nhiều công
trình đã được xây dựng để tưởng niệm ông. Trương Hán Siêu được lập đền thờ tại
chân núi Non Nước thuộc công viên Dục Thúy Sơn nằm bên sông Đáy ở thành phố
Ninh Bình. Làng Phúc Am xưa cũng thờ ông ở di tích chùa Đẩu Long, phường Tân
Thành, thành phố Hoa Lư, Ninh Bình. Ông cũng được đúc tượng thờ tại di tích
hành cung Vũ Lâm trong quần thể di sản thế giới Tràng An. Khu tưởng niệm danh
nhân văn hóa Trương Hán Siêu được xây dựng trong khuôn viên khu di tích Nhà thờ
họ Trương Việt Nam ở phường Ninh Mỹ, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Tại tỉnh
Hải Dương có đền Từ Xá, tại thôn Từ Xá, xã Đoàn Kết, Thanh Miện thờ Trương Hán
Siêu. Tại Hà Nam có đền Từ Du hay đình Cao Đà thờ Trương Hán Siêu với vai trò
là vị tổ lập làng Cao Đà ở xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân ngày nay. Trương Hán Siêu
cũng được hậu thế tôn vinh tại di tích nhà thờ họ Trương Việt Nam thuộc phường
Ninh Mỹ, thành phố Hoa Lư, Ninh Bình. Thời nhà Nguyên, Trương Hán Siêu được thờ
ở miếu Lịch Đại Đế vương. Đây là Miếu đường tôn thờ các vị Đế vương và các Danh
tướng anh hùng tiêu biểu. Đền Cố Trạch thuộc khu di tích đền Trần (Nam Định) có
gian tả vu là nơi đặt bài vị thờ Trương Hán Siêu. Ở Ninh Bình có một giải thưởng
được trao hàng năm trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật cho các tác phẩm tiêu biểu
mang tên giải thưởng Trương Hán Siêu. Hàng năm tại khu di tích đền thờ Trương
Hán Siêu cũng diễn ra lễ trao học bổng cho các học sinh xuất sắc trong tỉnh
Ninh Bình. Tên của ông cũng được đặt cho nhiều đường phố ở Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng, thành phố Ninh Bình, v.v. Đó là những sự tri ân, tưởng niệm
hết sức thiết thực để các thế hệ đời sau biết tới danh nhân văn hóa lịch sử
Trương Hán Siêu.
Quan điểm Phật giáo của Trương Hán Siêu và tính thời sự của
quan điểm ấy trong bối cảnh hiện nay
Trương Hán Siêu là một người thông tuệ, am hiểu giáo lý
nhà Phật. Nhiều tư liệu Hán Nôm đã ghi lại những phát ngôn của ông liên quan tới
đạo Phật. Đã có nhiều nhà nghiên cứu nhận định ông là “nhà Nho bài xích Phật
giáo” hoặc “nhà Nho kịch liệt bài xích Phật giáo", cho rằng ông đã nhận định
sai lầm về vai trò của người xuất gia. Trên phần đầu trong văn bia chùa Khai
Nghiêm, Trương Hán Siêu có viết 匪耕而食,匪織而衣 (Phi canh nhi thực, phỉ chức nhi y) (đại ý rằng người xuất
gia không được đánh giá cao và thậm chí cho rằng đó là hạng ăn bám xã hội, đó
là hạng không cày mà ăn, không dệt mà mặc). Bia chùa Khai Nghiêm hiện ở thôn Vọng
Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Sau này, văn bia được giới
thiệu trong Thơ văn Lý Trần, tập IIa, tr.748, Nxb. Khoa học xã hội, 1988 và
trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, thời Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2002. Bản
dịch nghĩa dưới đây được giới thiệu trong nghiên cứu của Bùi Hương Dung và Phan
Thị Chuyền (2022) từ chính bản trong lần khảo sát năm 1969 do ông Nguyễn Huệ
Chi thực hiện:
Tượng giáo đặt ra là để đạo Phật dùng làm phương tiện tế
độ chúng sinh; chính vì muốn khiến cho những kẻ ngu mà không giác ngộ, mê mà
không tỉnh lấy đó làm nơi trở về với thiên nghiệp. Thế nhưng những kẻ giảo hoạt
trong giới sư sãi lại bỏ mất cái bản ý “khổ, không" của đạo Phật mà chỉ
chăm lo chiếm những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự dát vàng nạm ngọc cho chỗ ở của
mình rực rỡ, tô điểm cho môn đồ của mình lộng lẫy như voi rồng. Đương thời bọn
có quyền thế, bọn ngoại đạo a dua lại đua đòi hùa theo. Vì thế những nơi u nhã
thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa. Đám áo thâm, áo vàng tụ tập
ở đấy, không cày mà ăn, không dệt mà mặc; những người thất phu thất phụ thường
bỏ cửa nhà, bỏ làng xóm lũ lượt quy theo.
Than ôi! Các bậc thánh hiền ngày càng xa cách, chính đạo
ngày càng lu mờ, những kẻ làm thầy, làm tướng đã không có bậc Chu, Thiệu để dẫn
đầu việc giáo hóa, các xóm thôn châu huyện lại không có trường để dạy dỗ nghĩa
hiếu thảo hòa thân, như thế thì người ta tránh sao khỏi hoang mang, ngoảnh nhìn
rồi bỏ đi theo đường khác. Đó cũng là thế tất nhiên.
Chùa Khai Nghiêm ở xã Thứ Nhị, giáo Như Ngột, miền trên lộ
Bắc Hà là ngôi chùa do công chúa Nguyệt Sinh triều Lý xây dựng. Xung quanh núi
Tiên Sơn chầu phía Nam, sông Điềm bao phía Bắc; cảnh đẹp cả một vùng thực đã
quy tụ nơi đây. Nhưng tiếc thay, quy mô xây dựng trước đã đổ nát chẳng còn được
bao nhiêu. Lúc đó Chu Tuế làm chức Nội nhân hỏa đầu dẫn dắt dân làng góp công
xây dựng lại. Khởi công từ năm Quý Dậu, niên hiệu Khai Hựu thứ 7 thì xong.
Trong chùa điện Phật, phòng tăng đều theo kiểu cũ. Ngày làm lễ khánh thành, già
trẻ trong cả một vùng đều chắp tay ngợi khen, tưởng như công chúa Nguyệt Sinh sống
lại.
Mùa đông năm Mậu Dần, Chu Tuế thân hành đến phủ Thiên Trường
xin ta viết cho bài ký và nói: “Chùa này xưa vốn có chuông, nay mới thay bằng
bia đá. Nếu không ghi lại sự tích, sợ sau này mai một mất dấu xưa". Ta
nói: "Chùa hỏng lại xây đã ngoài ý muốn của ta thì việc dựng bia khắc chữ
có can hệ gì đến văn tự của ta? Vả lại, ngày nay thánh triều muốn mở mang giáo
hóa để sửa đổi phong tục đồi bại. Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được
phục hưng. Đã là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn thì không bày tỏ
trước vua; nếu không phải đạo Khổng Mạnh thì không trước thuật. Thế mà ta lại
dương dương tự đắc, bàn bạc dài dòng về đạo Phật, ta sẽ lừa dối ai?". Tuy
nhiên, Chu Tuế đã từng làm trong Nội mật viện, thông thạo việc ty tào, đến lúc
tuổi già khinh đường sĩ hoạn, ham việc bố thí, cố từ bổng lộc, tự xin về ẩn dật
để được an nhàn, thì đó là việc ta muốn học mà chưa được. Cho nên, đó cũng là
việc đáng ghi chép vậy.
Ngày 15 tháng Hai năm Kỷ Mão, niên hiệu Khai Hựu thứ 11
(25/03/1339).
Chính nghị đại phu, Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo kiêm
Thiêm tri nội mật viện sự Chưởng bảo tứ Kim ngư đại Nha Thủy Trương Hán Siêu tự
Thăng Phủ viết.
Một số nghiên cứu cho rằng Trương Hán Siêu, với tư cách
là một nhà nho có những trải nghiệm thực tế để thấy rằng tu theo đạo Phật chưa
hẳn đã trở thành người hiền lương trung quân ái quốc nên đã không thích Phật
giáo (ông từng chứng kiến Trần Ích Tắc rất mộ đạo Phật nhưng rốt cuộc lại trở
thành kẻ phản bội theo quân xâm lược Nguyên Mông). Ông cũng là một trong những
nhà nho chủ trương chính quyền phải được tách rời ra khỏi ảnh hưởng của tôn
giáo và giới tăng ni không nên làm cố vấn can thiệp sâu vào việc nước… Dựa vào
những câu đầu trong văn bia "Bọn áo thâm, áo vàng tụ tập ở đấy, không cày
mà ăn, không dệt mà mặc", nhiều người phê phán đây là nhận định sai lầm của
Trương Hán Siêu về người xuất gia. Xét một cách công bằng thì người xuất gia
đúng nghĩa dù ở thời đại nào, vẫn có những đóng góp thiết thực vào xã hội mà
mình đang sống. Lịch sử phát triển của Phật giáo đã chứng tỏ điều này. Sự vận động
và phát triển của xã hội là tổng hòa của nhiều yếu tố, bên cạnh về phương diện
vật chất, thì phương diện tinh thần, tâm linh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Nhưng đọc toàn văn của văn bia, chúng tôi nhận thấy rằng, ông chỉ đang phê phán
những mặt tiêu cực của Phật giáo lúc bấy giờ. Trương Hán Siêu không bài xích Phật
giáo mà chỉ phê phán một số lệch lạc trong tư duy và cách hành xử của một bộ phận
những người tu theo đạo Phật. Trong bài văn bia này, Trương Hán Siêu cũng thuật
lại sự tích của chùa: “Chùa Khai Nghiêm ở xã Thứ Nhị, giáo Như Ngột, miền trên
lộ Bắc Hà là ngôi chùa do công chúa Nguyệt Sinh triều Lý xây dựng. Xung quanh
núi Tiên Sơn chầu phía Nam, sông Điềm bao phía Bắc; cảnh đẹp cả một vùng thực
đã quy tụ nơi đây. Nhưng tiếc thay, quy mô xây dựng trước đã đổ nát chẳng còn
được bao nhiêu. Lúc đó Chu Tuế làm chức Nội nhân hỏa đầu dẫn dắt dân làng góp
công xây dựng lại. Khởi công từ năm Quý Dậu, niên hiệu Khai Hựu thứ 7 thì xong.
Trong chùa điện Phật, phòng tăng đều theo kiểu cũ. Ngày làm lễ khánh thành, già
trẻ trong cả một vùng đều chắp tay ngợi khen, tưởng như công chúa Nguyệt Sinh sống
lại"... Mặc dù việc phục dựng lại ngôi chùa đã hỏng nằm ngoài ý muốn của
ông nhưng những dòng trên thể hiện sự mộ đạo của ông. Khi được Chu Tuế tới xin
chữ để khắc thành văn bia cho chùa, thái độ của ông là: “Chùa hỏng lại xây đã
ngoài ý muốn của ta thì việc dựng bia khắc chữ có can hệ gì đến văn tự của ta?
Vả lại, ngày nay thánh triều muốn mở mang giáo hóa để sửa đổi phong tục đồi bại.
Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được phục hưng. Đã là kẻ sĩ đại phu,
nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn thì không bày tỏ trước vua nếu không phải đạo
Khổng Mạnh thì không trước thuật. Thế mà ta lại dương dương tự đắc, bàn bạc dài
dòng về đạo Phật, ta sẽ lừa dối ai?". Tuy nhiên, rốt cuộc Trương Hán Siêu
vẫn đồng ý viết văn bia cho chùa Khai Nghiêm. Bởi lẽ ông trọng người đang tới
xin chữ của ông là Chu Tuế, nhân vật có cách hành xử khiến ông phải kính trọng.
Trương Hán Siêu lý giải: “Chu Tuế đã từng làm trong Nội mật viện, thông thạo việc
ty tào, đến lúc tuổi già khinh đường sĩ hoạn, ham việc bố thí, cố từ bổng lộc,
tự xin về ẩn dật để được an nhàn, thì đó là việc ta muốn học mà chưa được"...
Ở đây có thể thấy Trương Hán Siêu không bài bác những người tu theo đạo Phật,
thậm chí còn ngưỡng mộ, muốn học theo những chân nhân Phật giáo như Chu Tuế...
Lý do của việc Trương Hán Siêu đồng ý viết văn bia cho chùa Khai Nghiêm là vì
ông hiểu biết rất sâu sắc về Phật giáo và những tác động tốt của Phật giáo đến
chúng sinh: “Tượng giáo đặt ra là để đạo Phật dùng làm phương tiện tế độ chúng
sinh; chính vì muốn khiến cho những kẻ ngu mà không giác ngộ, mê mà không tỉnh
lấy đó làm nơi trở về với thiện nghiệp”. Tuy nhiên, thực tế xã hội lúc bấy giờ
khiến ông có cái nhìn không thiện cảm với những sự biến thái trong giới tu
hành. Ông đã viết điều đó vào văn bia chùa Khai Nghiêm: "...những kẻ giảo
hoạt trong giới sư sãi lại bỏ mất cái bản ý “khổ, không" của đạo Phật mà
chỉ chăm lo chiếm những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự dát vàng nạm ngọc cho chỗ ở của
mình rực rỡ, tô điểm cho môn đồ của mình lộng lẫy như voi rồng. Đương thời bọn
có quyền thế, bọn ngoại đạo a dua lại đua đòi hùa theo. Vì thế những nơi u nhã
thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa. Đám áo thâm, áo vàng tụ tập
ở đấy, không cày mà ăn, không dệt mà mặc; những người thất phu thất phụ thường
bỏ cửa nhà, bỏ làng xóm lũ lượt quy theo"… Thực tế này đối với ông là một
nỗi đau vì nó dẫn tới những hệ lụy không tốt cho đời sống người dân: "Than
ôi! Các bậc thánh hiền ngày càng xa cách, chính đạo ngày càng lu mờ, những kẻ
làm thầy, làm tướng đã không có bậc Chu, Thiệu để dẫn đầu việc giáo hóa, các xóm
thôn châu huyện lại không có trường để dạy dỗ nghĩa hiếu thảo hòa thân, như thế
thì người ta tránh sao khỏi hoang mang, ngoảnh nhìn rồi bỏ đi theo đường khác.
Đó cũng là thế tất nhiên"...
Chấn hưng Phật giáo không có gì hơn là phải đến với những
người tử tế theo đạo Phật một cách tử tế. Trương Hán Siêu không chống lại Phật
giáo mà chỉ chống lại những sự dị đoan ẩn nấp sau những tấm áo thâm, áo vàng…
Theo Bùi Hương Dung và Phan Thị Chuyền (2022) đi đến kết luận rằng: “Bài văn
bia này đã nói lên ba điểm đáng chú ý về quan điểm của Trương Hán Siêu về Phật
giáo. Thứ nhất, căn cứ vào văn bia này chúng ta phải khẳng định rằng Trương Hán
Siêu rất am hiểu Phật giáo và không hề bài xích Phật giáo nói chung. Thứ hai,
Trương Hán Siêu phê phán tệ lậu của Phật giáo đương thời tại Đại Việt. Thứ ba,
Trương Hán Siêu khẳng định mình là một nhà Nho nhưng ngưỡng mộ người có thực
hành Phật giáo chân chính - đó là Chu Tuế."
Phật giáo đích thực luôn hướng tới những điều tốt đẹp,
chân thiện mĩ. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cũng bắt gặp những cảnh tượng
không hay mà Trương Hán Siêu đã đề cập từ nhiều thế kỉ trước. “Những kẻ giảo hoạt
trong giới sư sãi lại bỏ mất cái bản ý “khổ, không" của đạo Phật mà chỉ
chăm lo chiếm những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự dát vàng nạm ngọc cho chỗ ở của
mình rực rỡ, tô điểm cho môn đồ của mình lộng lẫy như voi rồng. Đương thời bọn
có quyền thế, bọn ngoại đạo a dua lại đua đòi hùa theo. Vì thế những nơi u nhã
thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa". Thời gian gần đây,
dư luận rộ lên với những phản ứng trái chiều về việc nhiều ngôi chùa, công
trình tâm linh hoành tráng, quy mô quốc gia, Đông Nam Á được xây dựng. Từ đó, đặt
ra câu hỏi, liệu việc đó có đúng với tinh thần Phật pháp, hay đây chỉ là câu
chuyện "kinh doanh tâm linh". Xét về mặt tích cực thì xây dựng lớn
các công trình tôn giáo là thể hiện sự khát vọng tốt lành mà tôn giáo đang mang
lại, thể hiện niềm tin tâm linh mà con người muốn qua xây dựng công trình để thể
hiện đóng góp của mình và đối với nhiều tôn giáo quan trọng nhất của các công
trình tâm linh là nơi linh thiêng giáo dục con người hướng tới một xã hội tốt đẹp.
Tuy nhiên nhiều vấn đề tiêu cực xảy ra ở các ngôi chùa lớn như chùa Ba Vàng
cũng khiến dư luận hết sức bức xúc. Nhiều doanh nghiệp đang đổ xô vào xây chùa
với quy mô lớn, diện tích lên đến hàng nghìn héc-ta. Và, chùa xây sau luôn cố gắng
làm to hơn chùa trước. Họ nhìn thấy lợi nhuận từ việc kinh doanh tâm linh nhiều
hơn là lễ Phật, điều đó đi ngược lại truyền thống của người Việt và giáo lí nhà
Phật. Trước kia xây chùa là thể hiện đất nước hưng thịnh, nhưng bây giờ xây
chùa bây giờ không chỉ là nơi thờ Phật mà nó gắn liền với du lịch. Nếu làm khu
du lịch đơn thuần thì khó thu hút khách cho nên người ta xây thêm vào khu du lịch
đó một ngôi chùa, quàng vấn đề tâm linh vào đó để dễ thu hút khách. Những dự án
đó đón đầu cho một trào lưu mới đang rất phát triển, du lịch tâm linh, một lĩnh
vực kinh doanh siêu lợi nhuận. Du lịch tâm linh đã và đang phát triển rất mạnh,
một phần vì cuộc sống phát triển, càng nhiều biến đổi, càng nhiều bất an trong
cuộc sống nên người dân lo sợ. Các nhà đầu tư đã tỏ ra khôn khéo khi gắn yếu tố
tâm linh vào việc khai thác du lịch, đồng thời đi kèm là một loạt các dịch vụ
khác như coi xe, cho thuê chỗ bán hàng, cho thuê xe điện... rất nhiều các dịch
vụ siêu lợi nhuận. Hơn 2.500 năm trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dự ngôn rằng,
nhân loại sẽ đi vào thời mạt Pháp, nghĩa là con người không còn có Pháp trong
tâm để ước thúc bản thân, điều gì cũng dám làm, điều xấu nào cũng dám phạm, dẫn
đến đạo đức ngày càng suy đồi. Tu hành trong Phật giáo, điều trước tiên được
yêu cầu là cần phải Giới, giới cấm hết thảy dục vọng, không còn chấp trước vào
vật chất, danh, lợi, tình. Ngày nay, trên truyền thông cũng như trong đời thực
truyền nhau những hình ảnh các vị sư ngồi trên ô tô mát lạnh, nghe kinh Phật
online rồi đi khắp nơi làm lễ cầu siêu, lễ xông đất, lễ khai trương, khánh
thành, lễ trừ tà, giải hạn... để nhận "thù lao". Họ xài điện thoại
sang, khoe dàn karaoke bạc triệu, đi xe tiền tỷ, treo ảnh chụp chung với quan
chức và trưng bằng chứng nhận “kỷ lục”... Việc liên tiếp có những “siêu dự án”
xây dựng chùa chiền, tổ chức những cuộc đại hội tôn giáo, đúc tượng Phật, in
kinh sách... dường như đang gây ra một giả tượng về việc người dân ngày càng
tín ngưỡng Phật Pháp. Việc hóa vàng, dâng sao giải hạn đến thỉnh vong báo oán,
từ hòm công đức không minh bạch cho đến xây chùa to để 'buôn thần bán thánh'...
các bậc hòa thượng nghiện ma túy tự tử đến gây gổ đập phá tài sản của “chúng
sinh”, “nhà môi giới đất” cho đến lộ clip đồi trụy, gạ tình, ăn chơi, cờ bạc,
trụ trì chùa nọ nói xấu trụ trì chùa kia... khiến cho nhiều người liên tưởng về
sự suy đồi, mạt pháp của Phật giáo... Tuy chỉ là “những con sâu làm rầu nồi
canh” nhưng những con người đó đã tạo hình ảnh xấu về Phật pháp thời hiện đại.
*
* *
Trương Hán Siêu là nhà văn hóa lớn, là người có quan điểm
về Phật giáo hết sức rõ ràng. Ông đã nhìn ra những điều hủ tục trong xã hội cũ
và phê phán nó. Đối chiếu với ngày nay, ta như thấy lại những điều ông đã viết
có tính thời sự hết sức nóng bỏng. Việc chỉ ra cái xấu, cái tiêu cực là một điều
cần làm để hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, theo hướng chân thiện mĩ của đạo
Phật. Và như Trương Hán Siêu cũng đã từng viết trong văn bia kể trên thì
"ngày nay thánh triều muốn mở mang giáo hóa để sửa đổi phong tục đồi bại.
Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được phục hưng". Có như vậy thì
mới giữ được sự tôn nghiêm của Phật pháp, xã hội mới bình an, phát triển bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trương Quốc Bình (2018), Trương Hán Siêu, cuộc đời
và sự nghiệp, Nxb. Văn hóa dân tộc.
Bùi Hương Dung và Phan Thị Chuyền (2022), Trương
Hán Siêu với Phật giáo qua bia ký chùa Khai Nghiêm, Bắc Ninh, truy cập
https://thuvienhoasen.org/a38139/truong-han-sieu-voi-phat-giao-qua-bi-ky-chua-khai-nghiem-bac-ninh ngày
10 tháng 4 năm 2025.
Đinh Công Nga (2021), Trương Hán Siêu - danh sĩ
thời Trần, người con đất cố đô Hoa Lư lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội.
Nhiều tác giả (2004), Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1,2,
Nxb. Khoa học xã hội.
Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý-Trần, tập 2, quyển
thượng, Nxb. Khoa học xã hội.
Bài viết đầy đủ có tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Thân thế, sự nghiệp Thái phó Trương Hán
Siêu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025.