Lịch sử đang đặt lên vai chúng ta một trách nhiệm thiêng liêng mà chúng ta phải gánh chịu trước tổ tiên từ hàng ngàn năm, trước đồng bào cả nước hôm nay, trước con cháu mãi mãi sau này. Đó là vấn đề làm thế nào gìn giữ, khai thác, giới thiệu và nghiên cứu di sản cực kỳ quý báu của dân tộc ta trong kho sách Hán Nôm.
Đây
không chỉ là những cổ vật bằng giấy mực, mà là huyết hãn của cha ông, là nỗi
lòng mà cha ông gửi gắm, là lẽ sống mà cha ông dặn dò, là kinh nghiệm máu xương
từ bao đời dựng nước và giữ nước. Dù kẻ địch đã bao lần cướp phá, và thiên tai
đã bao lần hủy hoại, nhưng báu vật này vẫn được nhân dân ta từ bao đời quý trọng
như máu thịt của mình để đời trước trao gửi lại đời sau. Ngày nay, nếu như những
báu vật ấy đến thời đại chúng ta lại bị rẻ rúng và thất tán, thì đó là một thiếu
sót to lớn mà lịch sử không thể không lên án. Đây là nỗi lo âu mà đông đảo đồng
bào đang cùng chia sẻ với chúng ta.
Hơn
năm năm thi hành Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã
sưu tầm v à thu thập được khá nhiều tư liệu. Tuy nhiên, tài sản quý báu này vẫn
còn nằm rải rác trong dân gian, trong các đoàn thể, cơ quan Nhà nước và cả ở nước
ngoài nữa.
Tình
trạng tư liệu Hán Nôm còn phân tán trên mọi miền như thế đã tạo ra sự chia cách
giữa tư liệu và người nghiên cứu. Người có tư liệu không có điều kiện khai thác
đã để sức sống của dân tộc hàng ngàn năm trong các tư liệu đó trở thành một mớ
giấy vụn trong tủ. Ngược lại, cán bộ nghiên cứu vì thiếu tư liệu đã bị hạn chế
rất nhiều khi đánh giá lịch sử và luận chứng khoa học. Cho nên, vấn đề sưu tầm
và tập trung tư liệu và Viện Nghiên cứu Hán Nôm không phải chỉ giản đơn là chuyển
tư liệu ấy từ nơi này sang nơi khác, mà chính là tổ chức việc bảo quản và khai
thác tư liệu ấy.
Chúng
ta đang chứng kiến những hiện tượng rất đau lòng từ nhiều tư liệu vẫn bị đem
bán làm giấy quạt, phất diều, làm đồ tùy táng, làm khuôn đúc nồi, làm trần nhà.
Khá nhiều bia đá đã bị đem làm cối, làm cái kê cột nhà, làm vật liệu lát đường
v.v. Tài sản vố giá này của đất nước đang tiếp tục tan biến đi trước con mắt của
chính chúng ta.
Hiện
nay có rất nhiều người nắm giữ tư liệu Hán Nôm, song không muốn trao cho Viện
Nghiên cứu Hán Nôm những tư liệu ấy. Có người sợ chúng ta không bảo quản nổi để
mất mát những di vật quý báu của họ. Có người cần nghiên cứu nên giữ sách lại
làm của riêng mình. Có người giữ sách chỉ để trang trí. Cũng có một số người
coi tu liệu Hán Nôm như giá trị hàng hóa có thể đem buôn bán kiếm lời.
Tình
hình nói trên đòi hỏi chúng ta bàn bạc, có những chính sách, biện pháp và hình
thức thích hợp để sưu t ầm đầy đủ các sách Hán Nôm cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Sưu
tầm không thề là mục đích tự thân. Sưu tầm chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho một
mục đích cao hơn. Sưu tầm chỉ là điều kiện đầu tiên cho việc xử lý, nghiên cứu
và khai thác những di sản ấy. Có sưu tầm và tập trung lại các sách cũ của cha
ông, chúng ta mới có thể đối chiếu, cân nhắc, chọn lựa và mới xác định được
tính chính xác của từng câu, từng chữ, để từ đó giới thiệu với độc giả những
văn bản đáng tin cậy nhất.
Viện
Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm sách cũ không phải như sưu tầm những đồ cổ để triển
lãm và thưởng ngoạn, mà chính là phát huy sức mạnh tinh thần và văn hóa của cha
ông, để trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng ngày nay.
Khối
lượng công tác cực kỳ to lớn và trọng yếu trên đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
không thể gánh vác một mình. Đây là trách nhiệm tập thể của đông đảo các nhà
nghiên cứu, trước hết là những đọc giả uyên thâm về cổ học trong nhiều lĩnh vực
nghiên cứu và rải ra trên mọi miền của đất nước. Sự hợp tác chặt chẽ và thường
xuyên của đội ngũ này là một đòi hỏi cấp bách của lịch sử.
Để
đáp ứng yêu cầu tất yếu trên đây, Tạp chí Hán Nôm đã ra đời.
Tạp
chí Hán Nôm là
nơi gặp gỡ và trao đổi ý kiến của các bạn đồng nghiệp trong toàn quốc, từ các
ngành Triết học, Kinh tế học, Xã hội học, Địa lý, Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc
học, Văn học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Nghệ thuật học. Mỗi giới khoa học đi
sâu vào những vấn đề chuyên biệt của mình. Nhưng tất cả sẽ vì lợi ích chung hợp
tác chặt chẽ với Tạp chí Hán Nôm để cùng giải quyết rất nhiều
vấn đế khoa học đang được đặt ra và sẽ được đặt ra trong quá trình nghiên cứu.
Sự
đóng góp của đông đảo cộng tác viên từ các địa phương kể cả trong nước và ngoài
nước sẽ dần dần cung cấp cho Viện Hán Nôm những văn bản khác nhau về cùng một
tác phẩm. Chỉ có trên cơ sở đối chiếu, nghiên cứu và bàn bạc trên tạp chí mới
đem lại những văn bản tương đối chính xác và gần nhất với nguyên bản của tác giả.
Dịch
thuật và chú thích các văn bản Hán Nôm là một công việc đã được tiến hành lâu
và cũng đã từng nhiều lần được làm đi làm lại. Nhưng bảo đảm được chính xác ý
nghĩa và tình cảm của tác giả qua việc sử dụng một văn tự nước ngoài là một vấn
đề rất tinh vi và phức tạp. Trao đổi ý kiến trên tạp chí sẽ là việc cần thiết để
dần dần giới thiệu được những bản dịch có chất lượng cao nhất.
Tiếc
rằng các tác phẩm Hán Nôm của cha ông chúng ta đã bị thiên tai và địch họa phá
hoại quá nhiều. Nhưng trên 15.000 cuốn sách còn lại ở Viện Hán Nôm cũng là những
tài sản vô cùng quý báu đối với đất nước chúng ta.
Tôi
muốn nêu lên ở đây một số ý kiến về công việc khai thác di sản ấy.
Không
thể trong một thời gian ngắn chỉnh lý, dịch thuật, chú thích, nghiên cứu và giới
thiệu cả một kho tàng đồ sộ đó. Vấn đề đặt ra là phải chọn lọc để việc khai
thác, đem lại những hiệu quả cao nhất. Giới nghiên cứu Hán Nôm không làm việc
này một cách tùy tiện và tùy hứng. Trách nhiệm lịch sử đòi hỏi họ phải đãi cát
lấy vàng, đem tinh hoa của quá khứ phục vụ cho yêu cầu của cách mạng hôm nay.
Tạp
chí Hán Nôm ra
đời giữa lúc toàn Đảng, toàn dân đang chào đón Đại hội Đảng lần thứ VI. Đại hội
tập trung trí tuệ cao nhất của đất nước, sẽ khắc phục những khó khăn chồng chất
của chặng đường đầu tiên này của thời kỳ quá độ.
Đại
hội sẽ trên cơ sở phân tích khoa học tình hình và triển vọng về mọi mặt kinh tế,
chính trị và văn hóa ở Việt Nam, đồng thời tiếp thu những thành tựu mới nhất của
nhân loại để đề ra những chủ trương và chính sách thích hợp.
Trong
sự nghiệp lớn lao này không những tương lai vẫy gọi chúng ta mà quá khứ rực rỡ
của dân tộc vẫn tiếp tục đem lại cho chúng ta một nguồn sức mạnh vô tận từ tâm
hồn phẩm chất, từ cách suy nghĩ, từ phương pháp hành động của con người Việt
Nam qua bao nhiêu thế kỷ.
Những
tác phẩm nổi tiếng mà giới nghiên cứu cổ học đã cùng nhau dịch thuật, chú thích
nghiên cứu và giới thiệu, ngày càng chứng minh lời tuyên bố của Nguyễn Trãi về
nền văn hiến lâu đời của dân tộc, về “phong tục riêng biệt” của chúng ta, về
truyền thống lấy “Đại nghĩa thăng hung tàn, lấy chí nhân thay cường đạo”.
Trong
kho tàng di sản Hán Nôm còn rất nhiều tác phẩm và rất nhiều vấn đề chưa được
nghiên cứu, khai thác. Chúng ta tin chắc chắn rằng: đi vào thế giới mênh mông
này của quá khứ, nhiều tinh hoa, nhiều vấn đề khoa học lý thú sẽ nổi lên và lôi
cuốn chúng ta trước những nét đặc sắc của cha ông ở tâm hồn cao cả, ở tài năng
sáng tạo qua mỗi chặng đường lịch sử.
Các
tác phẩm sử học sẽ tiếp tục nói lên ý chí kiên cường, tinh thần
lạc quan và niềm tin thắng lợi của cả dân tộc trước những chuỗi dài thử thách.
Các
tác phẩm văn học, triết học sẽ tiếp tục làm rõ hơn nữa tinh thần
nhân đạo của con người Việt Nam không chỉ ở tình cảm sâu sắc đối với đất nước
và đồng bào mà còn chứa đựng những tư tưởng tuyết vời bao trùm trên vận mệnh của
cả nhân loại và của mỗi con người.
Các
tác phẩm xã hội học, dân tộc học sẽ giới thiệu trước tinh thần
hào hứng của chúng ta về đời sống trong gia đình, ngoài xã hội, từ thôn dã đến
triều đình. Trong sự nghiệp của chúng ta hôm nay, những cách thức của cha ông
trong quản lý kinh tế và xã hội trong việc xây dựng những thuần phong mỹ tục,
những quy tắc về quan hệ giữa người và người, sẽ đem lại cho chúng ta rất nhiều
bài học cả chính diện và phản diện.
Những
tác phẩm rất quý giá của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú như Phủ biên Tạp lục,
Lịch triều hiến chương loại chí đã khiến cho chúng ta suy nghĩ về cách
thức mà cha ông chúng ta đã giải quyết các vấn đề về giá, lương, tiền trong xã
hội cũ.
Chúng
ta cũng từ di sản của Hán Nôm mà tìm hiểu nguồn gốc của chế độ quan
liêu bao cấp không chỉ nảy sinh từ thời đại chúng ta mà có nguồn gốc từ
hàng ngàn năm lịch sử. Đây là một xã hội đã được tổ chức tinh vi với những quy
chế rất chặt chẽ thể hiện chế độ hai chiều: cống nạp từ bên dưới và cấp phát từ
bên trên.
Về mặt kinh
tế, chúng ta cũng hiểu thêm một xã hội mang nặng truyền thống như xã hội
Việt Nam, sẽ gặp những thuận lợi gì và khó khăn gì trên con đường của xã hội
hóa.
Chúng
ta hiểu vì sao, chế độ ruộng công (công hữu về ruộng đất) đã tồn tại lâu đời ở
Việt Nam, và bộ máy thống trị ở nông thôn cũng đã từng được tổ chức theo bầu cử,
những kiểu “công hữu” và “dân chủ” ấy đã nhiều lúc biến thành một cơ chế bóc lột
và và áp bức nhân dân. Điều đó càng khiến cho chúng ta hiểu sâu sắc rằng ngay
trong xây dựng nông thôn, chúng ta sẽ không tránh được sai lầm nếu không “nắm vững
chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, đồng thời đẩy
mạnh ba cuộc cách mạng, cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ
thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là
then chốt”.
Đường
lối trên đây của Đảng nói lên bản chất của chế độ ta. Nếu như bản chất này
không được quán triệt thì nông thôn ta sẽ chẳng tiến về phía trước mà sẽ lùi lại
đằng sau.
Trong
di sản của cha ông không chỉ có những nhân tố tích cực mà còn đầy rẫy những
nhân tố tiêu cực. Để phục vụ cho những nhu cấu cấp bách trước mắt, chúng ta lựa
chọn và khai thác những tài liệu có ý nghĩa thiết thực nhất. Điều này không có
nghĩa là chúng ta sẽ bỏ qua những tài liệu tiêu cực còn đầy rẫy những tư tưởng
bảo thủ, sùng ngoại, mê tín, dị đoan. Những tài liệu này nhất thiết sẽ được
phân tích. Đó là người thầy phản diện của chúng ta, giúp chúng ta tìm hiểu vì
sao sự trì trệ về kinh tế - xã hội lại kéo dài hàng ngàn năm lịch sử, hạn chế
chúng ta tiếp xúc nhanh chóng với những thành tựu của nhân loại để không ngừng
đổi mới đất nước.
Với
một vài nhận định trên đây, chúng tôi nghĩ rằng: đội ngũ nghiên cứu cổ học của
chúng ta đang đi vào một vương quốc bao la với những nhiệm vụ vừa trọng đại vừa
cấp thiết.
Tạp
chí Hán Nôm của chúng ta sẽ tạo nên một sức mạnh tập thể có sự đóng góp ngày một
đông đảo của một đội ngũ nghiên cứu từ các bộ môn khoa học, từ các vùng lãnh thổ,
cả trong và ngoài nước.
Chính
vì lẽ đó mà đi vào quá khứ, chúng ta lại thấy tương lai và những vấn đế cổ học
sẽ trở thành hiện đại.