Trung tâm Phật giáo xứ Đông qua nghiên cứu trường hợp chùa Quỳnh Lâm
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Trung tâm Phật giáo xứ Đông qua nghiên cứu trường hợp chùa Quỳnh Lâm” của TS. Ngô Quốc Đông (Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam). Bài viết sử dụng cách tiếp cận liên ngành sử học, khảo cổ học và tôn giáo học, kết hợp khung phân tích lịch đại để phục dựng diện mạo lịch sử và chức năng tôn giáo của chùa Quỳnh Lâm - một trung tâm Phật giáo xứ Đông. Nội dung bài viết nhấn mạnh tới yếu tố địa chính trị - văn hóa của vùng Đông Triều với ba yếu tố nổi bật là quê hương nhà Trần, di tích và tôn giáo đã biến nơi đây thành một nơi hội tụ tri thức, vương quyền và tăng tài; đồng thời khảo cứu tối đa các ghi chép liên quan đến chùa Quỳnh Lâm. Mặc dù thiếu vắng trong chính sử, nhưng qua các tư liệu địa chí, văn bia và sách Hán Nôm, chùa Quỳnh Lâm lại hiện lên như một biểu tượng thiêng liêng, gắn liền với các yếu tố tâm linh, quyền lực và tài trợ tôn giáo. Toàn văn bài viết đã được đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 12/2025.

Di Lặc Phật điện: Tòa điện lớn tại chùa Quỳnh Lâm.

(Nguồn ảnh: Báo Quảng Ninh điện tử)

1. Mở đầu

Mặc dù chùa Quỳnh Lâm được xem là “đệ nhất danh lam” của xứ Đông, nhưng các sử liệu chính thống như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí... lại không dành cho di tích này một chuyên khảo độc lập hay hệ thống tư liệu liên tục. Thông tin về chùa chỉ xuất hiện rải rác, gián tiếp, chủ yếu trong các nội dung liên quan đến các nhân vật nổi tiếng như Trần Quang Triều, Trương Hán Siêu hay sự kiện trùng tu thời Lê - Trịnh… Việc tái dựng vai trò, diện mạo và ý nghĩa của chùa Quỳnh Lâm, do đó, đòi hỏi một cách tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa sử học, tôn giáo học, văn hóa học và khảo cổ học.

2. Đông Triều - một trung tâm văn hóa, tôn giáo xứ Đông

Hải Dương trước đây là trung tâm của xứ Đông. Thời phong kiến, xứ Đông được hiểu là vùng phía Đông của kinh thành Thăng Long. Hải Dương là một trong tứ trấn quan trọng thời Lê, Nguyễn. Hải Dương thuộc phía Đông nên cũng gọi là Hải Đông hoặc xứ Đông. Theo Đại Nam nhất thống chí, tên Đông Triều có từ trước thời Trần.

Đông Triều - quê hương của nhà Trần

Sách Trần thị gia huấn được viết vào năm Thành Thái thứ 9 (1907) hiện lưu giữ tại đền Cố Trạch (Tức Mặc - Nam Định) ghi rõ: “Nhà Trần ban đầu tới núi Yên Tử chiếm địa thế núi, dựng ngôi chùa nhỏ thờ Phật, một vùng sau núi sau này có thể làm nơi của họ hàng ăn ở yên vui, nay là xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương có miếu nhà Trần ở đó… Một ngày kia đến khu vực khang kiện vùng Tức Mặc, Thiên Trường, nay có miếu thờ tự nhà Trần ở đó…”

Xét về quê hương của họ Trần có 3 nơi: thứ nhất, Dương trạch ở xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương; thứ hai Dương trạch ở xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định; thứ ba Âm phần ở xã Thái Đường, huyện Hưng Nhân, nay thuộc tỉnh Thái Bình.

Sự lựa chọn của họ Trần đối với An Sinh không chỉ thể hiện rằng đây là quê gốc (dương trạch) của họ, mà còn chứng tỏ rằng vùng đất này đã trở thành nơi quan trọng trong việc xây dựng lăng tẩm và đền miếu (âm trạch) cho triều đại nhà Trần. Điều này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của họ Trần đối với An Sinh và vị trí quan trọng của nó đối với sự thịnh suy của dòng họ và triều đại Trần.

Đông Triều - một trung tâm sinh hoạt văn thơ thời Trần

Các nghiên cứu trước đây và kết quả các cuộc khai quật khảo cổ những năm 2008-2010 của Viện Khảo cổ học đã cho thấy dấu tích của am Bích Động. Am Bích Động, được xây dựng bởi Trần Quang Triều, cũng là nơi mà Bích Động thi xã hoạt động. Đây là hội thơ lớn và có lịch sử lâu đời nhất trong văn hóa thơ ca của Việt Nam. Bích Động thi xã có vai trò quan trọng trong việc phát triển và bảo tồn nền thi ca của thời Trần. Căn cứ trên các dữ liệu khảo cổ, giả thuyết hiện nay cho rằng chùa Sinh được xây dựng trên vị trí am Bích Động của Trần Quang Triều xưa. Sau những biến đổi của thời gian và xã hội, am Bích Động dần bị mai một và quên lãng, trên nền dấu tích cũ, người ta cho dựng chùa để thờ cúng.

Đông Triều - trung tâm Phật giáo thời Lý - Trần

Chùa Ngọa Vân tọa lạc ở xã An Sinh và Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là một quần thể chùa bao gồm 15 cụm chùa và tháp trong 4 khu vực khác nhau, trong đó chùa Ngọa Vân nằm ở vị trí trung tâm. Đây là nơi tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm - Trần Nhân Tông, và là nơi nhiều cao tăng thời Trần và thời Lê Trung hưng từng tu hành và viên tịch. Chùa Ngọa Vân ở tỉnh Quảng Ninh được xây dựng trong thời kỳ Trần, được cải tạo và hoàn thiện kiến trúc vào thời Hậu Lê. Trần Nhân Tông, một vị Phật hoàng tu hành đắc đạo đã làm cho ngôi chùa trở thành một trong những thánh địa quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm.

Chùa Ngọc Thanh, thường được gọi là Linh Khánh tự, nằm trên dãy núi Đạm, còn được gọi là núi Đạm Thủy, thuộc thôn Đạm Thủy, xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nơi này không chỉ nổi tiếng từ lâu, mà còn là lăng mộ của hai vị vua Trần Duệ Tông và Trần Thuận Tông, tạo thành một quần thể bao gồm chùa, tháp, đạo quán và lăng miếu.

Chùa Hoa Yên nằm trên ngọn núi Đầu Voi, đỉnh cao nhất của dãy núi Yên, thuộc vòng cung núi Đông Triều, được coi là nơi rồng nằm và chùa được xây trên trán của con rồng. Ban đầu, chùa được gọi là Vân Yên tự, với ý nghĩa mây mờ, do thường bị che phủ bởi mây trắng mỏng ở độ cao 600m. Thời Lê, vua Lê Thánh Tông thấy cảnh trí ở đây đẹp đến kỳ diệu, với trăm hoa nở rộ, mây biến thành hoa, nên đổi tên thành chùa Hoa Yên (Hoa Yên tự). Chùa còn được gọi là chùa Cả hoặc chùa Yên Tử. Chùa Hoa Yên từng là ngôi chùa chính của hệ thống quần thể chùa Yên Tử và xuất hiện trong nhiều tài liệu.

Ngoài ra, trên núi Yên Tử có gần 100 ngọn tháp và mộ được xây dựng bằng gạch, xi măng và đá, trong đó tháp Huệ Quang nằm ở vị trí trung tâm và là nơi thờ xá lợi của đức Điều Ngự Giác Hoàng, là Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ. Tháp Huệ Quang được bao quanh bởi tường xây bằng gạch và được bảo vệ bằng mái ngói mũi hài thời Trần. Sự tồn tại của gần 100 ngọn tháp này là bằng chứng cho đội ngũ đông đảo các nhà sư tu hành tại trung tâm Phật giáo này. Vườn tháp Huệ Quang trên núi Yên Tử là một ví dụ hiếm hoi về sự tập hợp của những công trình tháp tại một địa điểm duy nhất trên toàn quốc.

3. Chùa Quỳnh Lâm qua một số sử liệu

Chùa Quỳnh Lâm là một di tích có tiếng như vậy, nhưng điều đặc biệt là trong Đại Việt sử ký toàn thư hầu như có rất ít thông tin về ngôi chùa này. Thông tin hiếm hoi duy nhất mà bộ chính sử thời phong kiến đề cập về chùa Quỳnh Lâm là: “khoảng thời Trần Minh Tông, chùa Quỳnh Lâm từng có một vị ‘Giám tự’ nổi tiếng ‘bài Phật’: Trương Hán Siêu, một nhà Nho nhiều uy tín”. Năm 1736: “mùa xuân tháng Giêng làm ba chùa Quỳnh Lâm, Hồ Thiên, Hương Hải, lấy dân các huyện Hiệp Sơn, Thủy Đường, Kim Thành, Đông Triều, Thanh Hà phục dịch”.

Các thông tin từ Tam Tổ thực lục - tập sách chép tiểu sử ba vị tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần cho biết: Trần Quang Triều không chỉ có mối liên kết sâu sắc với chùa Quỳnh Lâm thông qua hoạt động của Bích Động thi xã, mà ông và vợ là công chúa Thượng Trân còn tặng một phần lớn tài sản cho chùa Quỳnh Lâm.

Trong bộ Đại Nam nhất thống chí, ở tập nói về tỉnh Hải Dương có ghi chép về chùa Quỳnh Lâm như sau: “Ở nơi gò bằng dưới núi Quỳnh Lâm, xã Hà Lôi, huyện Đông Triều, do thiền sư Nguyễn Minh Không triều Lý dựng lên và đúc tượng đồng để trong chùa (tượng này là một cái bảo khí trong bốn bảo khí ở An Nam) vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông thường ngự đến, vị sư tăng Pháp Loa và Huyền Quang cũng chủ trì ở đấy, có viện Quỳnh Lâm và am Bích Động. Đây là thắng cảnh linh tích đứng đầu các chùa ở tỉnh Hải Dương. Hồi đầu đời Vĩnh Khánh nhà Lê có sửa chữa lại lấy dân các huyện Chí Linh, Đông Triều và Thủy Đường phục dịch việc ấy. Hồi đầu đời Vĩnh Hựu lại bắt dân các huyện Hiệp Sơn, Thủy Đường, Đông Triều, Kim Thành và Hà Thanh hợp lại để tu sửa”.

Trong Hải Dương tỉnh dư địa chí có ghi: “Chùa Quỳnh Lâm nằm ở xã Hà Lôi, được kiến lập từ đời Trần, là danh lam đệ nhất. Nơi đây còn tượng của các vị Nhân Tông, Huyền Quang, Trạng nguyên Không Lộ. Thế núi bằng phẳng gọi là núi Chúc Long. Trên núi có chùa cổ có chuông đồng, khánh đá. Đây là nơi do Nguyễn Minh Không triều Lý dựng lên. Vừa là thắng cảnh, vừa là di tích linh thiêng, cũng là danh thắng lớn của tỉnh Hải Dương. Năm thứ nhất thời Lê Vĩnh Khánh (1729) cho trùng tu. Năm Vĩnh Hựu (1735-1740), lại cho tu sửa, lần này làm xong thì vô cùng trang nghiêm, diễm lệ. Triều Nguyễn có Thám hoa Nguyễn Lăng nhận lệnh đi cầu di thư, khi đi qua đây đã cho thơ”.

Trong Đông Triều huyện chí cho biết chùa Quỳnh Lâm được liệt vào chùa cổ: “Chùa ở xã Hà Lôi, tổng Mễ Sơn. Vua Trần Nhân Tông chuộng đạo Phật cho rằng chùa Quỳnh Lâm là danh lam đệ nhất trời Nam, bèn dựng chùa ở đó. Chùa có ba gian, gian giữa làm chính điện, trước làm tiền điện, sau là hậu điện. Cửa võng rực rỡ, tòa sen xán lạn, tượng pháp nghiêm trang, gọi là Quỳnh Lâm Phật tự, một trong tứ quý của nước Nam. Đời Vĩnh Lạc nhà Minh (1407-1413), điện vũ bị phá hỏng chưa có ai tu sửa lại. Đến thời Trịnh Dụ tổ Thuận Vương (?) vì có lòng mến Phật, bèn ra lệnh tu sửa lại chốn cũ, tô tượng đắp chuông. Quang cảnh lại rỡ ràng đẹp mắt, so với ngày trước bội phần tươi mới. Vào đời Chiêu Thống (1787-1788), chùa gặp hỏa hoạn, chính điện và tiền điện đều bị thiêu cháy, chỉ còn hậu điện”.

Trong Dư địa các tỉnh Bắc Kỳ, soạn những năm 20 của thế kỷ XX cho biết về chùa Quỳnh Lâm qua tên Chùa làng Hà Lôi: “ở Đông Triều đi ra làng Hà Lôi có cảnh chùa rất có tiếng về đời nhà Trần. Chùa này là do ông Nguyễn Minh Không về đời nhà Lý làm ở dưới chân núi Quỳnh Lâm. Trong chùa tượng đúc tinh bằng đồng cả. Thật là một cảnh chùa đẹp có tiếng ở nước ta. Vua Trần Thái Tôn và Trần Nhân Tôn trước có đến thăm chùa ấy”.

Ngoài những sử liệu quan trọng trên, từ hai thập niên trở lại đây, chùa Quỳnh Lâm cũng được đề cập trong một số nghiên cứu của Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Hiền Đức…

4. Một số đặc điểm tôn giáo rút ra qua các sử liệu về chùa Quỳnh Lâm

Qua các tài liệu cổ và văn bia, có thể thấy một điểm xuyên suốt là: chùa Quỳnh Lâm luôn duy trì bản sắc đặc biệt bằng việc tôn thờ Di Lặc là Phật chủ. Việc dựng tượng Di Lặc tại chùa Quỳnh Lâm không chỉ dừng ở khía cạnh tâm linh hay nghệ thuật, mà còn liên quan đến yếu tố quản lý tài sản tôn giáo, huy động phúc lợi xã hội. Sự kiện huy động hàng trăm lượng vàng, ruộng đất từ nhiều tầng lớp (quý tộc, công chúa, cư sĩ...) cho thấy Phật giáo thời Trần được lòng cả triều đình lẫn dân chúng. Tượng Di Lặc là một biểu tượng vật thể của chính sách “Phật giáo hóa đạo đức xã hội”.

Qua những ghi chép trong Tam Tổ thực lục, có thể thấy yếu tố Di Lặc tại chùa Quỳnh Lâm không chỉ mang giá trị tôn giáo mà còn thể hiện rõ nét tư tưởng Phật giáo nhập thế, hòa dân tộc, an quốc gia, đồng thời thể hiện khả năng thích nghi và sáng tạo bản địa của Phật giáo Việt Nam.

Các chứng tích về việc thờ Phật Di Lặc tại chùa Quỳnh Lâm với ba lần đúc tượng lớn dưới các triều đại khác nhau, cùng việc Di Lặc Phật điện nằm ở vị trí trung tâm, đã cho thấy vị thế đặc biệt của vị Phật này trong hệ thống biểu tượng tại đây.

Tam giáo cũng đã được hội nhập, dung thông tại đây. Ngoài ra, có cả yếu tố Mật giáo thời Lý qua truyền thuyết về pháp sư Nguyễn Minh Không. Từ điều này có thể suy đoán rằng tuy Thiền Trúc Lâm là chủ đạo nhưng Phật giáo Quỳnh Lâm đã đạt tới sự dung hợp, hài hòa với các thiết chế bên ngoài nó và mang tính đại chúng cao. Sự hiện diện của yếu tố Thiền, Mật, Tịnh và cả tinh thần Tam giáo dung hòa cho thấy một mô hình Phật giáo mở, giàu tính bản địa hóa và thích ứng cao với đời sống cư dân.

Có thể thấy, chùa Quỳnh Lâm không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm truyền bá Phật học và đào tạo tăng tài. Các ghi chép về cầu siêu, sự hiện diện của các Tổ Trúc Lâm như Pháp Loa và cả hoạt động văn chương gắn với Bích Động thi xã đều phản ánh chức năng học thuật hóa Phật giáo của ngôi chùa này - một nét đặc trưng của mô hình Phật giáo mang tính học viện trong lịch sử trung đại Việt Nam.

Căn cứ vào sử liệu và các đợt trùng tu lớn, có thể thấy chùa Quỳnh Lâm có vai trò thiết yếu và trung tâm trong đời sống tôn giáo của cư dân xứ Đông. Việc xây dựng và trùng tu chùa Quỳnh Lâm ở các thời kỳ đã có sự đóng góp không nhỏ của người dân nơi đây. Điều này cho thấy khi Nho giáo chú trọng đến các thiết chế chính trị triều đình, hay Đạo giáo đi vào dân gian thì Phật giáo vẫn có một vị trí lớn trong lòng dân tộc, đối với cả các vị vua, chúa lẫn cư dân trong vùng.

5. Kết luận

Chùa Quỳnh Lâm là một minh chứng đặc sắc cho quá trình hội tụ của các yếu tố chính trị, tôn giáo và văn hóa trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Từ một trung tâm thờ tự gắn với dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, chùa Quỳnh Lâm dần hình thành một mô hình tổng hợp: vừa là chốn tổ linh thiêng, vừa là học viện Phật giáo, đồng thời cũng là biểu tượng quyền lực tâm linh của vương triều Trần.

Qua các lần tái thiết và sự bảo hộ của chính quyền phong kiến, chức sắc, cũng như dân chúng địa phương, chùa Quỳnh Lâm không chỉ là một kiến trúc tôn giáo mà còn là biểu tượng văn hóa của xứ Đông. Việc thờ Di Lặc như Phật chủ, tinh thần dung hòa tôn giáo và vai trò đào tạo tăng tài cho thấy một Phật giáo vừa có tinh thần nhập thế, vừa mang tính dân tộc cao.

Việc phục dựng và bảo tồn di tích chùa Quỳnh Lâm ngày nay là cơ hội để tiếp tục kết nối truyền thống Phật giáo với phát triển văn hóa, du lịch bền vững của địa phương. Trong bối cảnh đương đại, di sản chùa Quỳnh Lâm không chỉ có giá trị tôn giáo, lịch sử, mà còn là nền tảng quan trọng cho giáo dục đạo đức, ý thức lịch sử và lòng tự hào dân tộc trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa văn hóa./.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Thông tin KHXH
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1