Yên Châu từng là một huyện thuộc tỉnh Sơn La, sau 01/7/2025, bỏ cấp huyện, gọi là xã Yên Châu gồm diện tích tự nhiên và quy mô dân số sáp nhập từ các đơn vị hành chính: thị trấn Yên Châu, các xã Chiềng Đông, Chiềng Sàng, Chiềng Khoi, Chiềng Pằn và Sạp Vạt. Theo Cầm Trọng, Yên Châu được nhắc đến trong Quám tố mướng (“Kể chuyện bản mường” - Tác phẩm văn học sử, kể tích xưa, truyền miệng của người Thái) với tên Mường Vạt; thời nhà Trần gọi là Mường Việt; thời Lê gọi là Việt Châu; thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ III (1822) đổi tên thành An Châu, còn gọi là Yên Châu, tên hiện nay.
Người Thái ở Yên Châu là một nhóm địa phương trong cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam, chiếm phần đông trong số 5 dân tộc (Thái, Kinh, Xinh Mun, Mông, Khơ Mú). Ở Chiềng Khoi và Chiềng Đông, cư dân Thái chiếm tỷ lệ cao và cư trú chủ yếu tập trung thành bản riêng, có bản gần như 100% người Thái Đen. Chẳng hạn, ở Chiềng Khoi có 6 bản người Thái Đen, với 5 dòng họ: Lò, Lừ, Mè, Hoàng (hoặc Khoàng), Cà (hoặc Khà). Tại bản Áng, 100% dân cư là người Thái Đen.
Nhìn chung đời sống hiện tại của người dân nơi đây đã được cải thiện đáng kể so với trước, cho dù họ vẫn làm ruộng, trồng lúa nước và chăn nuôi tại gia là chính. Bên cạnh đó họ cũng khá linh hoạt trong việc làm dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ vận tải, buôn bán các sản vật địa phương như đồ thủ công, cây thuốc nam, hoa quả v.v... Vẫn còn hộ gia đình thuộc diện nghèo nhưng đã ít hơn nhiều so với trước. Hầu hết mọi người trong bản, ở mọi lứa tuổi sử dụng điện thoại di động; thanh niên dùng smartphon, còn người cao tuổi dùng loại “cục gạch”. Kết nối với thế giới bên ngoài không còn là điều gì xa lạ với người Thái Yên Châu. Tuy nhiên, những thay đổi về điều kiện sống và việc dễ dàng được thụ hưởng văn minh công nghệ số không làm niềm tin vào PHI của họ thay đổi. Bên cạnh những lễ cúng cộng đồng (xên bản) diễn ra vào một thời điểm nhất định trong năm, vẫn thường xuyên có những lễ cúng tổ chức tại gia đình vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lễ cúng với âm nhạc rất đặc biệt. Đó là Xên Một Lao, một trong số các loại cúng giải hạn, gọi chung là Xên Khớ. do thầy Một thực hiện. Người Thái ở đây vẫn thường nhờ thầy Một giúp giải quyết những sự vụ liên quan đến sức khỏe, số phận, hạnh phúc gia đình mà họ bói được là do một loại phi nào đó tác động. Làm thầy Một ở Yên Châu là một nghề chuyên nghiệp; thầy không làm bất cứ việc gì khác ngoài Xên Khớ.
Xên Khớ
Chuyển sang tiếng phổ thông, Xên Khớ nghĩa là cúng giải hạn. Dich từng chữ: “xên” là cúng, và “khớ” là hạn (Hà Văn Đức 2011: 34). Tuy nhiên không đơn giản như cách giải nghĩa theo từng chữ, xên và khớ trong đời sống tâm linh Thái phức tạp hơn nhiều.
Người Thái phân biệt hai hình thức giao tiếp với thần linh là “xên” và “tham”. Tham nghĩa là khấn nên không giống xên được. Cả hai đều là nói trước thần linh nhưng tham là việc mà ai cũng có thể thực hiện, còn xên thì chỉ người có phẩm chất, uy tín cao với cộng đồng hoặc có năng lực Then (Trời) ban cho mới làm được. Thực hành tham có thể chỉ cần đọc hay nói lời văn bình thường, nhưng thực hành xên thì phải diễn xướng có vần điệu, nhạc điệu, như hát (khắp). Người có phẩm chất và năng lực, có tư cách thực hành xên được gọi là thầy. Trong Luật tục Thái ghi chú 2 loại thầy, Mo và Một. Thầy Một là người có “căn số”, được phi Một trên trời nhập hồn, chỉ bảo làm thầy, mà buộc phải làm thầy nếu không sẽ bị phi Một “hành hạ” sống dở chết dở; và khi đã chấp nhận làm thầy Một, trong nhà phải lập bàn thờ phi Một. Có hai loại thầy Một phân biệt theo giới tính (nam và nữ). Thầy nữ Một gọi là Một Nhinh, thầy nam Một gọi là Một Lao. Thầy Mo là loại thầy do tự học hỏi mà nên, nắm vững luật lệ, phong tục tập quán, có tư cách tốt, có uy tín trong cộng đồng, có thể đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, xên bản xên mường. Khác với thầy Một, chỉ nam giới mới làm thầy Mo. Như thế, cả hai thầy Mo và Một đều có thể xên, nhưng Xên Khớ thì chỉ có thầy Một mới có năng lực thực hiện. Đến đây, cần khảo sát về khớ, để làm rõ tại sao chỉ thầy Một mới có thể Xên Khớ. “Khớ” với người Thái không đơn giản chỉ là “hạn” theo cách hiểu thông thường, là những rủi ro, đen đủi mà con người gặp phải trong cuộc sống.
Người Thái cũng coi khớ/hạn là những điều tồi tệ mà người ta gặp phải trong cuộc đời ở một giai đoạn nhất định, nhưng căn nguyên của khớ thì rất khác, không phải do sao hạn chiếu mệnh. Với người Thái khớ không chỉ là những điều tồi tệ xảy ra tại thời điểm nào đó trong cuộc đời mà còn đồng nghĩa với hành trình được sống trên thế gian của một người. Theo mô tả của Cầm Trọng, người Thái hình dung khớ như một “sợi bông trắng mỏng manh”, có lẽ vì cuộc đời của ai cũng vậy vốn bất trắc, không biết trước được sẽ gặp những tai họa gì, sẽ chết lúc nào. Thế nên, “con đường sống kéo dài có nghĩa là khớ dài và ngược lại chết non thì gọi là khớ ngắn (...). Khi đến 25 tuổi bị ốm nhẹ, người ta bảo đó là một khớ nhẹ. Đến 40 tuổi bị ốm thập tử nhất sinh thì đó là một khớ nặng. (Cầm Trọng 1978: 383). Với người Thái, khớ dài hay ngắn là do phi Then, còn khớ nặng hay nhẹ là do nhiều loại phi khác, không phải do vị sao nào đó trên trời như quan niệm của người Kinh, mà có thể chỉ do một loại phi nào đó luôn tồn tại quanh con người; chẳng hạn như phi Cướt, (trẻ con chết thành loại phi này). Như thế, căn nguyên của khớ chung quy là do PHI. Sự phức tạp của thế giới PHI khiến cho khớ mà con người phải chịu trong cuộc đời đa dạng, phức tạp; kéo theo những lễ nghi dành cho khớ (Xên Khớ) cũng đa dạng, phức tạp. Tùy từng căn nguyên của khớ là do loại phi nào mà thầy bói xác định giúp, người Thái sẽ có một lễ tương ứng với đặc tính của loại phi đó. Bởi thế, Xên Khớ bao gồm nhiều loại cấp độ lễ lớn nhỏ khác nhau, sự chuẩn bị đồ lễ khác nhau và thầy thực hành lễ cùng với phương thức thực hành cũng khác nhau (Một Lao và Một Nhinh đã nêu trên).
PHI, KHUAN – Khái niệm trung tâm trong vũ trụ quan Thái
Đối với người Thái ở Yên Châu, cũng như người Thái ở Tây Bắc nói riêng và người Thái ở Đông Nam Á nói chung, PHI và KHUAN là 2 khái niệm trung tâm của vũ trụ quan Thái.
PHI
Người Thái tin vào sự tồn tại của PHI, thế giới linh hồn (không nhìn thấy được bằng mắt) của tất cả thực thể ở trên trần thế cũng như trên trời (nghĩa là bao gồm vạn vật, người đã chết và cả thần linh), bên cạnh thế giới của người sống. Khi con người hết số mệnh trần thế, chết đi sẽ gia nhập vào thế giới PHI, và tùy theo vị thế lúc còn sống và lý do chết mà người đó sẽ về nơi của loại phi nào. Thế giới PHI tác động, chi phối mạnh mẽ đến thế giới người sống. Không chỉ người Thái ở Việt Nam, cho đến ngày nay, ngay cả ở dân tộc Thái tại những quốc gia theo Phật giáo, tín ngưỡng này vẫn tồn tại. Chẳng hạn, tại Thái Lan, quốc gia người Thái là chủ thể, đồng thời là đất nước theo Phật giáo, ở vùng Bắc Thái Lan, nơi Phật giáo Thượng tọa bộ trở thành tôn giáo phổ thông từ thế kỷ XV, tín ngưỡng PHI vẫn hiện hữu.
Tuy nhiên, PHI đối với người Thái ở Bắc Thái Lan đã có ý nghĩa khác biệt với người Thái ở Việt Nam. Keyes viết: “từ phi rõ ràng chứa đựng ý nghĩa ám chỉ đến một phần linh hồn nguy hiểm của một người còn vất vưởng sau khi chết và nó cơ bản gắn với thi hài” (Keyes 2022: 113). Như thế, có thể hiểu rằng đối với người Thái theo Phật giáo ở Bắc Thái Lan, PHI chỉ là “một phần linh hồn”, mang nghĩa xấu, được cho là “nguy hiểm”. Điều này nhắc nhở người ta phải chân tu để khi chết toàn bộ linh hồn sẽ về với cõi Phật, thành Phật. Nếu tu không đến nơi đến chốn, một phần (cái phần không chịu tu theo Phật) linh hồn sẽ thành PHI. Quan niệm này rất khác với người Thái ở Việt Nam.
Người Thái ở bên Lào dù cũng theo Phật giáo và cũng tin vào PHI nhưng khác với người Thái ở Thái Lan, PHI không tích hợp vào “trong vũ trụ quan Phật giáo” mà vẫn tồn tại độc lập, bên cạnh Phật giáo. Trong cuốn Lịch sử Lào (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội năm 1997) ghi rõ, từ thế kỷ XVI thời vua Phôthixảrạrát của vương quốc Lào Lạn Xạng vào năm 1527 “đã ra một sắc lệnh cấm thần dân trong nước không được thờ Phỉ nữa mà chỉ được phép thờ Phật.(...) Các đền xưa miếu cũ bị đập đi để xây chùa” (...). Tuy nhiên, tại các nơi này “Phỉ vẫn chiếm được sự sùng bái của nhân dân” (tr. 137-139). Ngày nay mặc dù đã theo đạo Phật, người Lào vẫn thờ phỉ bản (...). Tại những nơi Phật giáo thình hành, người Lào vẫn thờ phỉ bản ngay gốc cây bồ đề trước chùa. Trong tất cả các dịp bun hội của Phật giáo, mọi người đều cúng phỉ bản trước khi mở bun than của Phật giáo” (Lịch sử Lào, tr.20).
Thế giới PHI trong quan niệm người Thái Tây Bắc Việt Nam được Cầm Trọng mô tả khá chi tiết, chúng tôi mạnh dạn rút gọn, hệ thống lại ý của tác giả theo cách hiểu của mình về thế giới phức tạp này như sau: Về cơ bản thế giới PHI có hai vùng tách biệt: vùng phi Người (do người chết mà thành) và vùng phi Then (các vị thần).
Vùng phi Người được phân biệt thành 2 phần: Đẳm Đoi (tổ tiên theo dòng họ) và Hịt Hạy(chết trong nghèo khổ, hoặc thân phận kẻ bị cộng đồng khinh bỉ, không được phép về Đẳm Đoi). Phần Đẳm Đoi bao gồm Liên phan luông - khu vực các dòng họ quý tộc, và Liên pan nọi – khu vực các dòng họ dân thường. Mỗi khu vực lại có các mường phi khác nhau tùy theo thân phận và trường hợp chết cụ thể của người. Phần Hịt Hạy dành cho các thân phận chết không được về với tổ tiên; tức là không đủ tư cách đến Đẳm Đoi. Phần này cũng gồm nhiều mường phi khác nhau, phân biệt theo thân phận và sự kiện người chết như: Khlo, Khlai – người chết không có gia đình/cô độc; Ha, Pái – người chết do sinh nở, dịch bệnh, đâm chém, mất bộ phận cơ thể (tắm máu), chết do thất tình...; Cướt – trẻ con bị chết (Cầm Trọng dịch nghĩa là “ma trẻ ranh”), loại phi này hay gây ra bênh cho trẻ con.
Vùng phi Then cũng phân biệt thành hai phần: Then Luông và các Then còn lại. Then Luông là Then có thế lực lớn nhất, gồm những Then sáng tạo và là chủ mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội. Các Then còn lại là những Then chủ quản một sự nào đó trong cuộc sống con người. Then Bun-Then Chăng chủ về hạnh phúc, công danh; Then Xội chủ về xét xử tội lỗi; Then Ló (còn gọi: Me Bảu) chủ về sinh ra người; Then Khớ chủ về sự sống/sự tồn tại; Then Chất–Then Chát chủ về sự chêt, định ngày giờ chết của người; Then Chương chủ về chiến tranh; Then Xinh chủ về kiểm tra tư cách linh hồn để đưa về đúng vùng phi phải đến; Then Hung-Then Khao chủ về hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, sấm...; các Then còn lại, mỗi Then chủ quản một mường ở vùng phi Người (chẳng hạn Then Thóng chủ quản Đẳm Đoi, Then Hịt-Hạy chủ quản mường Hịt-Hạy...). (Cầm Trọng 1978: 392-400).
Sự phân biệt các phi theo hệ thống trong quan niệm Thái cho thấy Người và Then là hai tầng tách biệt. Sau khi chết, người luôn thành phi Người, không bao giờ trở thành phi Then về ngụ ở vùng phi Then được; mãi mãi là như vậy. Điều này rất khác tín điều Phật giáo. Người Thái theo Phật giáo có thể tin rằng con người, nếu tu hành tốt, sau khi chết có thể được về cõi Phật, không bị đưa vào cõi khác; không bị chuyển kiếp hoặc trở lại kiếp người trong khổ đau.
Dù có những khác biệt trong quan niệm về số phận của các hồn sau khi chết giữa người Thái theo tôn giáo cổ truyền ở Việt Nam với người Thái theo Phật giáo ở Thái Lan hay Lào, nhưng vẫn còn một sự tương đồng quan niệm về hồn và cách phát âm từ ngữ nói chỉ hồn, đó là “khuan” (có thể hơi khác về âm điệu và cách ghi vào văn bản).
KHUAN
Với người Thái Yên Châu, hồn là “khoắn” – ghi âm gần giống nhất với cách phát âm ở đây. Một số sách phiên âm tiếng Thái hơi khác: sách của Cẩm Trọng ghi là “khuôn” (1978) và “khuân” (1995), Hà Văn Đức (2011) cũng ghi là “khuân”, có lẽ do thổ ngữ Thái mỗi vùng hơi khác nhau, hoặc có thể do cách phiên âm sang tiếng phổ thông của mỗi tác giả khác nhau. Chúng tôi viết “khuan” bởi việc phát âm từ được ghi như vậy vừa sát với âm điệu giọng người trên thực tế, vừa gần với các cách phiên âm ở các tư liệu trước.
Nếu như PHI bao gồm tất cả thế giới những thực thể tâm linh bên ngoài thế giới ngoài người sống, thì KHUAN gồm tất cả những tinh linh cũng được gọi là khuan ngụ tại các bộ phận sinh học cấu thành cơ thể người như đầu, thân, tay, chân, tim, gan v.v... Có thể hiểu là đầu có khuan đầu, chân có khuan chân, tay có khuan tay... người ta có thể suy nghĩ, nhận biết và hoạt động, giao tiếp được là nhờ hệ thống khuan thống nhất trên cơ thể. Sự đau, nhức, mỏi, từ các bộ phận mà ta nhận biết được là do khuan thông báo rằng ở đó có vấn đề. Đây là điều rất khác với quan niệm của người Kinh - người sống có ba hồn bảy vía (nam) hay chín vía (nữ). Trong quan niệm Thái, con người có 80 khuan (không phân biệt hồn với vía như người Kinh). Sách Văn hóa Thái Việt Nam ghi rõ cơ cấu “30 hồn ở mặt trước, 50 hồn ở mặt sau” (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, 1995: 386).
Ông Mè V Ph, thầy Một ở Chiềng Đông giải thích rằng, người ta có 80 khuan vì thử đếm riêng các ngón tay ngón chân đã có 20 khuan rồi...; trong đó quan trọng nhất là khuan chủ ngự ở trên đỉnh đầu. Một anh bạn người Thái của tôi cho biết đó là lý do mà người Thái không bao giờ đánh con, tối kỵ đánh vào đầu, vì lo ngại các khuan của con sẽ sợ mà rời khỏi thân thể, đi tìm nó về rất phức tạp; khuan chủ rời đi còn có thể nguy đến tính mạng. Quan niệm một người sống có nhiều khuan còn liên quan đến cách giải thích chuyện hồn người khi chết biến thành phi thì đi về đâu. Sách Luật tục Thái giải thích: “Hồn con trai được phân thành hai. Một sống trong ngôi nhà vốn có của mình ở bản ở mường. Và một nữa, đi về cõi đẳm để thành tổ tiên, tiếp tục sống trong cộng đồng huyết thống dòng cha (đẳm pảu đẳm pú). Hồn người con gái thì phân thành ba. Một, sống với nhà của gia đình nhỏ, tức với chồng con như khi còn ở cõi người. Hai sống với chồng ở đẳm pú đẳm pảu. Ba, trở về với cộng đồng huyết thống dòng cha của mình”. (Ngô Đức Thinh, Cầm Trọng 2023: 980-981).
Một điều đáng lưu ý nữa trong quan niệm về KHUAN của người Thái là khả năng rời khỏi thể xác của nó. Mỗi người có đến 80 khuan, không phải lúc nào trong thân xác cũng có đầy đủ số đó; một số khuan có thể rời khỏi cơ thể vì lý do nào đó, đi lạc sang “thế giới hư vô”. Quan niệm về KHUAN của người Thái không đơn giản chỉ là phần ngự trong một thân xác mà còn “tạo ra tính cách, hành vi ... của con người”; hơn thế, theo Cầm Trọng, họ còn có ý niệm về tư thế của khuan ở mỗi người trong trạng thái “minh” - chỗ đứng, “nen” - chỗ dựa nhất định. Trạng thái của khuan trong con người vững chắc hay bất định là do phi Then định đoạt.
Vấn đề đặt ra là KHUAN liên quan gì đến khớ, nỗi lo của người sống?
Mối liên hệ PHI, KHUAN và Xên Khớ
Người Thái quan niệm PHI cũng có cuộc “sống”, cũng cần ăn như người, nhưng “ngược với người. Đêm của người là ngày của phi. Người ăn bằng thức ăn thực, nhưng phi chỉ ăn hương ăn hoa của thức ăn thực đó”; người Thái có câu: “cốn đảy kin cáo đi, phi đảy kin cáo cụm”, nghĩa là “khách được ăn cho chủ tốt bụng, phi được ăn phù hộ cho người” (Cầm Trọng 1978: 380). Thế nên muốn tốt cho người thì phải cúng PHI, tức là phải xên. Có rất nhiều loại phi nên cũng có nhiều hình thức xên, trong đó có Xên Khớ. Mối liên hệ PHI – KHUAN – Xên Khớ chủ yếu ẩn trong 2 yếu tố: 1) Tính dễ bị tác động bởi các loại phi xung quanh cùng khả năng tách khỏi cơ thể của các khuan và 2) sự chi phối trực tiếp của phi Then đối với người sống; tức là đối với hệ thống khuan trong con người;
Mối liên hệ thứ nhất, căn nguyên của chuyện rời cơ thể của khuan thường là do một loại phi nào đó rủ rê, mê hoặc. Vì mỗi người có 80 khuan, mà các khuan đều có khả năng rời khỏi cơ thể người, “nhà” của chúng. Sự rời khỏi cơ thể của khuan tác động trực tiếp tới sức khỏe con người. Nếu có đủ số khuan trong cơ thể thì người khỏe mạnh bình thường; nếu một số ít khuan nào đó trốn khỏi cơ thể đi chơi thì người sẽ bị mệt; nếu nhiều khuan hơn “trốn” khỏi cơ thể thì sẽ bị ốm và nếu tất cả khuan rời bỏ thân xác thì người sẽ chết. Mặt khác, do mỗi khuan cư trú và làm chủ một bộ phận cơ thể nên sự rời khỏi “nhà” của khuan ở bộ phận nào sẽ khiến bộ phận đó có vấn đề về sức khỏe. Tức là con người tiềm ẩn rất nhiều loại bệnh, và mỗi loại bệnh thể hiện ra bên ngoài những mức độ nặng nhẹ khác nhau. Như thế, mối tương tác duyên nợ PHI – KHUAN tạo nên khớ, người ta tìm nguyên nhân của khớ từ các phi bất kỳ nào đó. Để biết loại phi nào đó rủ rê khuan rời bỏ cơ thể và mức độ bệnh tương ứng, cần phải hỏi thầy bói. Khi xác định được loại phi nào mê hoặc khuan và đang giữ khuan ở phương nào, thầy bói sẽ khuyên người hỏi làm lễ to hay nhỏ, mời thầy Một Lao hay thầy Một Nhinh làm Xên Khớ. Lễ dành cho các trường hợp tương ứng với yếu tố thứ nhất này tạo nên loại xên tìm phi giữ khuan để đưa khuan về “nhà”. Ở Sông Mã, Sơn La, tùy từng loại phi dữ hay lành, sự việc rủi ro - khớ nặng hay nhẹ mà người Thái dùng lễ gì: khớ nhẹ thì cúng vịt (xên khớ pết), nặng hơn thì cúng chó (xên khớ ma), và khớ nặng hơn nữa thì cúng dê (xên khớ bẻ) (Hà Văn Đức, 2011: 24-33)
Mối liên hệ thứ hai, khớ do phi Then định đoạt. Con người có thể gặp rủi ro, đau ốm và chết không phải do khuan rời khỏi cơ thể mà do Then định. Có hai vị Then định hạn đời người là Me Bảu –sinh ra người và Then Chất định ngày giờ chết của người. Có một vị Then chi phối vận mệnh con người là Then Khớ.
Sách Luật tục Thái giải thích Me Bảu như sau: “Chữ bảu có nghĩa là khuôn. Đây là nữ thần chuyên đúc thành người rồi giáng xuống trần để đầu thai vào các bà mẹ ở cõi người. Có thể gọi đây là cõi tạo ra người và linh hồn người ở trần gian. Ở đây chúng tôi dịch me Bảu me Nang là Bà Mụ là theo nghĩa tương đương, dễ hiểu” (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng 2003: 981). Sách Văn hóa Thái Việt Nam giải thích kỹ hơn theo góc văn học về Me Bảu dưới tên “Then Ló”: “ló nghĩa là đúc. Đây là Then tượng trưng và tạo ra đường sinh nở ra con người. Khuôn để đúc nên người và thổi vào đó linh hồn sống là của bà mẹ được điển hình hóa trong hình tượng gọi là ME BẨU” (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, 1995: 454). Có thể hiểu Me Bảu là vị phi Then sáng tạo nên khuan/hồn với cái khuôn đúc mà “các bà mẹ Thái xưa có tục sắm cho mỗi đứa con một cái bát sứ cổ để tượng trưng cho cái máng đúc của Me Bẩu, gọi là “bát bẩu” (Sdd: 455). Nhưng như thế chưa đủ điều kiện, để thành người còn phải được Then Chất-Then Chát vào “sổ nhà Then” ghi họ, tên, chỗ ở, địa vị xã hội và hạn định giờ, ngày, tháng, năm chết cho người. Còn vị Then Khớ, nhân vật liên quan trực tiếp đến sự tồn tại đời người, được tác giả sách Văn hóa Thái Việt Nam giải thích như sau: “Then Khớ ... – tượng trưng và tạo ra đường dây của sự sống con người. Then Khớ giữ cho dây khớ mỏng manh như sợi chỉ bông khỏi đứt. Đường dây này có liên quan và tượng trưng cho tiếng thở và tiếng tim đập nên người ta mới có thành ngữ nói: “dây tim dây khớ” (xai chau xai khớ)” (Sdd: 458). Ở đây, “dây khớ mong manh” cho thấy cuộc đời người đầy bất trắc, dễ bị tổn thương, thậm chí có thể bị chết (dây khớ đứt) khi chưa đến ngày tháng chết đúng hạn định do Then Phắt ghi trong “sổ nhà Then”. Bởi thế, không phải Then Phắt, Then Khớ mới là đối tượng chính mà nghi lễ xên hướng tới, do ý nghĩa vô cùng quan trọng của ông Then này đối với sự tồn vong của con người. Nhiều người Thái Yên Châu không cần phải có sự kiện ốm đau bệnh tật hay có sự rủi ro bất thường, vẫn nhờ thầy Một làm lễ Xên Khớ cho cả nhà. để cầu xin Then quan tâm đảm bảo cho dây khớ của mình và dây khớ của mỗi người trong cả gia đình được an toàn, bền chắc.
Như thế, từ các mối liên hệ PHI – KHUAN với Xên Khớ phức tạp nêu trên, xét tới mục đích chính yếu nhất của việc xên, có thể xác định rằng người Thái có hai loại Xên Khớ, đặt tên là: Xên Tìm Khuan và Xên Đưa Khuan.
Loại Xên Khớ thứ nhất cúng các loại phi Người và có thể cả các phi vạn vật khác; tóm lại là bất cứ phi nào rủ rê khuan rời khỏi cơ thể. Loại Xên Khớ thứ hai cúng phi Then, thế lực định đoạt hoặc chi phối vận mệnh con người, xin Then, ban cho cá nhân, gia đinh, thậm chí cả họ tộc sự bình an, may mắn. Cá nhân hoặc gia đình người Thái chủ động mời thầy Một (có thể không cần nhờ lời khuyên của thầy bói) làm Xên Khớ sau khi đã chuẩn bị đủ tất cả những đồ lễ cần thiết. Trong loại xên này, thầy Một có nhiệm vụ tháp tùng toàn bộ những ai muốn xin khớ tham gia hành trình lên trời gặp Then Khớ và quay trở về nhà an toàn, không để khuan của ai thất lạc. Những người trong gia đình muốn xin khớ nhưng không dự lễ được chỉ cần gửi áo và chút lễ (có thể là tiền mặt) về nơi tổ chức xên. Người Thái quan niệm khuan của người nào ngụ ở áo của người đó; người gửi áo đồng nghĩa với khuan người đó đã có mặt. Đây là loại xên đưa khuan đi gặp Then. Thường thì trong trường hợp xin khớ cho cả gia đình, người ta mời thầy Một Lao. Loại xên này phải cần có âm nhạc trợ giúp thầy Một dẫn dắt mới đảm bảo đưa một “tập thể” khuan đi đến nơi về đến chốn được. Người Thái gọi là Xên Một Lao, hoặc gọi đơn giản là Một Lao.
Xên Một Lao
Sau đây là mô tả một cuộc Xên Một Lao thực hiện tại một gia đình Thái ở bản Đông Táu, Chiềng Đông, Yên Châu:
Gia chủ là đôi vợ chồng trẻ, người nhỏ bé và hơi gày, có một con nhỏ. Căn nhà của họ kiểu nhà ống trên khoảnh đất bé trong vườn trước của một căn nhà sàn lớn (có lẽ đất do bố mẹ chia sau khi anh ta lập gia đình). Nhà xây đơn sơ, lợp ngói phibro xi măng, ngay bên đường đất liên xã, khá rộng, ô tô có thể tránh nhau thoải mái.
Thực hành cuộc Xên Một Lao này là 3 ông thầy: thầy Một và hai thầy Pí (thầy Pí là người thổi sáo, một loại sáo đặc biệt, chỉ dùng trong Xên Một Lao, gọi là pí Một. Thầy Một là người Chiềng Đông, hành nghề từ năm 1992 (ông nói rằng, kể từ năm đó, ông chỉ sống bằng nghề Một, không làm bất cứ việc gì khác). Hai thầy Pí ở bản khác bên Chiềng Khoi, họ cùng đi trên một xe máy sang nhà thầy Một từ sáng sớm để cùng nhau đến nơi hành lễ.
Trước 8 giờ sáng, các thầy Một và thầy Pí đến. Gia chủ đã chuẩn bị mâm lễ có thủ và chân lợn, đầu và chân gà cùng xôi, rượu, lá trầu để khấn phi Hươn(phi chủ căn nhà đó). Thủ tục này do thầy Một tham để xin phép và báo cáo cho phi Hươn biết công việc sẽ làm trong ngày tại nhà; chưa phải là xên nên chưa cần đến thầy Pí. Ngay sau khi thầy Một tham phi xong, 3 thầy ăn sáng; gia chủ đã dọn sẵn mâm cho các thầy ăn lấy sức trước khi làm Xên Một Lao.
Trong lúc thầy Một tham phi, một số gia đình anh em họ hàng ở xa lục tục kéo đến. Họ mang theo chút tiền hoặc gạo góp lễ, và quan trọng hơn, mỗi gia đình đều mang áo của tất cả thành viên, buộc lại thành bó nhỏ để riêng. Áo của người nào mang hồn của người đó. Như thế dù có thành viên gia đình vì lý do nào đó không đến được, chỉ cần gửi áo thì vẫn được cúng giải hạn. Riêng áo của gia chủ được nhét vào trong một gói nhỏ bọc một con cá và một nắm xôi; vì đó mới là nhân vật chính, là lý do mà thầy Một có mặt hôm nay để làm Xên Một Lao. Công việc cụ thể của thầy, nói một cách đơn giản, là dẫn cả một đoàn khuan, bao gồm cả khuan của các thầy, lên trời gặp cho được Me Bảu và Then Khớ để xin giải hạn. Vì “quản lý” nhiều khuan cùng lúc, lại phải đưa cả đoàn qua một hành trình dài, thầy Một, dù đã có kinh nghiệm của hơn 30 năm hành nghề, vẫn phải gọi nhờ sư tổ - phi Một cùng đi. Bên cạnh đó, thầy cần có thêm sự trợ giúp của thầy Pí thổi những câu nhạc đầy sức mạnh nội lực, thể hiện quyền uy thần bí mới có thể dẫn dắt tất cả các khuan đi đến nơi về đến chốn, không để chúng bị thất lạc hay cố tình “trốn” ở lại mường Then.
Thầy Một ngồi trên tấm đệm đặt giữa nhà, quay mặt vào phía bàn thờ phi Hươn. Ngay trước mặt ông là một mâm gạo, có hai bát gạo đầy ở trên; mỗi bát đặt một vòng bạc để chìm trong gạo, một quả trứng đặt trên đỉnh, ở cạnh bát nhét miếng lá trầu bọc vỏ chay. Bên cạnh đó ngay trên mâm gạo là các đồ biểu tượng cho KHUAN, cho khớ của cả gia đình họ hàng, và các đồ cúng khác. “Tập thể” khuan ở trong các bó áo, còn khớ ở trong bó dây sợi bông dệt, màu trắng. Những đồ lễ kể trên không thay đổi vị trí trong suốt hành trình hành lễ. Các đồ lễ khác, với ý nghĩa dâng cúng PHI, tùy theo chặng đường đến đâu, tùy theo trường hợp gặp loại phi nào, cầu xin cái gì, mà thay đổi cho phù hợp. Mọi thứ đã sẵn sàng, thầy Một thắp 2 cây hương cắm vào cái bát to trước mâm gạo, bắt đầu tiến hành công việc.
Xên Một Lao bao gồm nhiều lễ thức, thực hiện theo một trình tự quy định rõ ràng. Chúng tôi đánh số các lễ thức cho tiện trình bày tóm tắt toàn bộ nội dung theo trình tự cuộc xên này.
Lễ thức thứ nhất, 1)- Mời phi Một ngự tại ban thờ Một (ở nhà thầy) đến trợ lực cho thầy Một dẫn khuan. Thầy bắt đầu xên như hát (khắp) với âm nhạc do thầy Pí thổi. Phi Một đã thức dậy, đã bên cạnh thầy Một, sẵn sàng dẫn đoàn khuan theo hành trình lên trời. Lễ thức 2)- Đoàn khuan được thầy Một đưa đến vùng phi Đẳmdòng họ cha. Thầy Một đánh thức các phi Đẳm, xên cho ăn, mời ngủ rồi mới dẫn khuan đi tiếp. Nếu xên cho phụ nữ thì còn phải đi qua một nơi nữa, đó là Đẳm Lung Ta (dòng cha đẻ của người phụ nữ). Lễ thức 3)- Thầy Một dẫn đoàn khuan đến chân núi Chiềng Đông, nơi bắt buộc phải qua mới lên trời được (kể cả làm ma, đưa người chết cũng phải qua đó); nơi này tựa như “cửa khẩu” sang vùng các phi Then. Đó là một ngọn núi gắn với truyền thuyết về chiếc thuyền bằng đồng rơi từ trên trời xuống; điểm rơi của thuyền tạo thành một hồ nước. Lễ thức 4)- Đoàn khuan đến làng phi Cướt (ma trẻ con). Trẻ con vốn nghịch ngợm nên phải xên cho phi Cướt ăn, dỗ cho nó ngủ rồi mới tiếp tục hành trình được. Lễ thức 5)- Đến một khu đồng hoang, nơi phi Khlô-Khlai (ma không vợ không chồng) cư ngụ. Đến đây, đồ lễ phải là gà; thầy lại xên cho phi Khlô-Khlai ăn, dỗ nó đi nghỉ rồi tiếp tục hành trình. Lễ thức 6)- Đến vùng làng của các phi thường dân (Liên pán nọi), chết khi đã có gia đình; vùng này chia làm 2 tầng; tầng dưới là tầng phi đàn bà; xên qua tầng này mới được lên tầng trên. Lễ thức 7)- Đến tầng phi đàn ông, thầy Một lại xên đánh thức phi dậy, mời ăn, mời ngủ rồi mới lại dẫn đoàn khuan đi tiếp. Lễ thức 8)- Đoàn khuan lên đến nhà Mẹ Bảu, nhân vật phi Then nặn ra con người, bao gồm cả các khuan và hình thù nhờ có khuôn đúc. Thầy Một Lò V Ph giải thích: “Nếu Me Bảu thả xuống trần, nếu cho “đầu thai” vào bụng người ngay khi “nặn” xong thì người được thọ dài đến hết số mệnh; nếu chẳng may cho vào bụng con trâu, con bò... có khi còn vòng vèo qua bụng con gì đó khác rồi mới vào lòng mẹ mình thì khi đó mình đã già, mẹ mới sinh ra vài năm mình đã hết số,... thậm chí có trường hợp vừa sinh ra đã chết”. Vì vậy, lễ thức thứ 8 này vô cùng quan trọng. Gia chủ phải nhờ Lung Ta (bên họ ngoại), làm “phăn Bảu” (lễ vật dành riêng cho Mẹ Bảu), bao gồm tất cả những gì tốt đẹp nhất, quý nhất đối với phụ nữ Thái, như vải vóc, bạc trắng (đồng bạc hoa xòe), xà tích bạc, đồ trang sức khác... Tất cả đặt lên một cái mâm được phủ kín bởi những chiếc khăn piêu mới dệt... dâng lên Me Bảu, xin bà chăm sóc cái bát mệnh của mọi người (cả đoàn khuan) khỏi bị nghiêng-lệch hoặc bị nứt nẻ (có thể là nguồn cơn của mọi vận hạn như: tai nạn, ốm đau, mất của, chết sớm...). Lễ thức 9)- Thầy Một tiếp tục đưa đoàn khuan lên cao hơn, đến nhà Then Khớ, xên xin ông hóa giải hết (cất hết) mọi điều xấu, tai ương tật ách trên đường đời của tất cả các khuan, đặc biệt là gia chủ, cho vào hòm khóa lại. Ông Một - Mè V Ph. cho biết, hòm của Then Khớ có hai lớp, nên có 2 lần khóa; và ông ta như là “cấp trên” của Me Bảu, “ký duyệt” cuối cùng tất cả những điều mà con người cầu xin: nhốt hết mọi điều thiên tai - nhân họa vào hòm, không để chúng trốn ra gây hại, khiến mất mùa trồng cấy, trâu bò gia súc gia cầm bị dịch bệnh, con người bị tai nạn ốm đau, làm ăn xui xẻo .... Bởi vậy lễ thức này là đã đến cái đích chính yếu, cuối cùng của toàn bộ cuộc Xên Khớ - Một Lao. Chỉ khi xên xin được Then Khớ khóa hòm lại thì thầy Một mới đưa đoàn khuan trở về. Từ đây là chặng đường đi xuống. Đi xuống không phải theo cách trở ngược lại con đường đi lên, mà phải đi đường khác. Con đường xuống qua một số nơi và đến mỗi nơi đó vẫn cần một lễ thức. Nơi đầu tiên của chặng xuống, có thể ghé vào hoặc không, tùy từng trường hợp gia chủ có nhu cầu hay không. Đó là lễthức 10), chặng qua Ao Máu. Nếu họ hàng, gia đình người thụ lễ từng có người bị chết tai nạn, chảy máu thì trên đường về, thầy Một dẫn các khuan qua Ao Máu, xên xin Then quản lý nơi đó không để tai nạn chết chảy máu tiếp tục xảy ra. Trong trường hợp gia đình không có ai bị chết chảy máu thì vẫn có thể nhờ thầy Một đưa khuan qua chặng này để phòng ngừa trước. Lễ thức 11)- Xuống tiếp, tới hươn khuan, nơi xem như trạm dừng nghỉ của khuan; nhà này vẫn thuộc phạm vi thế giới PHI nên cần có lễ thức, xên mời các phi ở đó ăn và nghỉ rồi mới xuống tiếp được. Lễ thức 12)- Qua một con suối, nơi tiếp giáp với thế giới trần tục để về nhà. Thầy Một làm lễ xên cho các khuan xuống suối tắm rửa, thay đồ sạch sẽ (vì đã phải qua chặng đường dài, vất vả). Lễ thức 13)- Thầy Một xên đưa các khuan về lại áo của mình; xên đưa phi Một về lại bàn thờ ở nhà thầy. Cuối cùng, mọi người trong gia đình cùng 3 thầy ăn uống, xử lý hết các đồ lễ cúng trước khi ai về nhà nấy. Cuộc Xên Một Lao hoàn thành.
Như thế, toàn bộ hành trình Xên Một Lao gồm 13 lễ thức. Lễ thức nào cũng đảm bảo các phần: xên thức các phi dậy - mời phi ăn- mời phi nghỉ, xong xuôi mới thực hiện lễ thức khác. Tất cả các lễ thức đều được thầy Một xên như hát, giọng hát vang khỏe, hòa cùng tiếng pí rè thúc giục đầy uy lực. Tuy nhiên, sắc thái xên cùng giai điệu pí Một có sự thay đổi, tùy theo đối tượng ứng xử của thầy Một. Mỗi lần giao tiếp với các phi Đẳm hay phi Then, giọng thầy dịu xuống, giai điệu pí mềm mại. Mỗi khi thực hiện hành trình dẫn khuan qua quãng đường từ vùng các phi này đến vùng các phi khác, giọng thầy dứt khoát như ra lệnh cùng với tiếng pí gầm gừ thúc giục. Đó là cách thầy kiểm soát cả đoàn khuan trong suốt hành trình dài, đi đến nơi, về đến chốn an toàn.
*
* *
Coi “Tôn giáo như một hệ thống văn hóa” (1966) Clifford Geertz đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo là: 1) một hệ thống các biểu tượng, hoạt động nhằm 2) thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp và bền lâu trong con người bằng cách 3) đề ra những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và 4) khoác cho những khái niệm này bằng một hào quang của sự thật khiến cho những tâm trạng và động cơ đó dường như là hiện thực duy nhất” (Geertz 2006: 312). Nếu dùng khái niệm này, soi vào hành trình Xên Khớ, có thể thấy Xên Một Lao như “sợi chỉ” xâu chuỗi các “làng bản”, các thành phần, tầng bậc của thế giới PHI trong mối liên hệ với KHUAN của thế giới loài người thành một hệ thống hoàn chỉnh trong vũ trụ quan Thái. Mỗi làng bản, mỗi thành phần, tầng bậc trong thế giới đó chi phối cuộc sống, số phận của con người ở mức đội khác nhau. Hành trình xin khớ này là một chiều, chỉ có đi, kể cả khi thầy Một đưa khuan về lại thể xác ở thế giới trần tục, không được trở lại đường cũ; tựa như hành trình đời người; tựa như mặt trời chỉ di chuyển một chiều, không bao giờ mọc ở phương Tây lặn ở phương Đông.
Vì dẫn các khuan là một hành trình vô hình, các lễ thức XênMột Lao không cần bày biện hình thức tạo hiệu ứng thiêng qua thị giác. Mỗi lễ thức đều tiến hành bằng âm nhạc. Nghe nhạc, người ta biết thời điểm bắt đầu hành trình, biết khuan đang đến đâu trong hành trình, và hết nhạc tức là hành trình kết thúc, Xên Một Lao khép lại.
Hành trình Xên Khớ chưa đưa khuan tới tất cả mọi nơi trong thế giới PHI, tức là chưa thể hiện toàn bộ hệ thống niềm tin tôn giáo của người Thái Yên Châu, nhưng cũng đủ thỏa mãn khái niệm “tôn giáo” mà Clifford Geertz đề xuất. Có thể coi Xên Khớ là một loại tôn giáo bản địa, vì những gì diễn ra không đơn giản chỉ là một loại tín ngưỡng dân gian. Câu chuyện Xên Khớ - Một Lao còn chưa đề cập đến 12 mường Then cũng như tên và quyền lực của từng loại phi Then ở tầng cao nhất của thế giới PHI; chưa đề cập hết các loài phi khác,... Dù vậy, qua hành trình đưa đoàn khuan xin khớ cùng thầy Một Lao (chỉ là một trường hợp trong đời sống tôn giáo), chúng tôi đã cố gắng phác họa một cách đơn giản nhất vũ trụ quan Thái, vốn da dạng và phức tạp.
Bất cứ dân tộc nào cũng cần có niềm tin tôn giáo để hiểu, lý giải mọi sự việc trong đời sống, duy trì một tinh thần tích cực, một nền tảng đạo đức đúng đắn trong quan hệ với gia đình và với cộng đồng. Và đó thực sự là cơ sở vững chắc để phát triển bền vững một cộng đồng dân tộc cho dù thế giới hiện nay đang thay đổi chóng mặt, với cách mạng khoa học công nghệ, máy tính, khoa học trí tuệ thông minh. Vũ trụ quan Thái với PHI - KHUAN là hai khái niệm trung tâm, hay tư duy tôn giáo của người Thái Yên Châu nói riêng, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói chung, thể hiện một bản lĩnh dân tộc vững vàng. Chúng tôi chưa thấy vùng người Thái nào ở Tây Bắc theo đạo Tin lành hay theo Phật giáo. Không phải họ không biết người Thái ở Lào, ở Thái Lan hoặc ở quốc gia nào khác theo đạo Phật; cũng có thể họ đã gặp những mục sư Tin lành hay những nhà sư Phật giáo truyền đạo. Nhưng người Thái ở đây vẫn trung thành với niềm tin tôn giáo của mình. Với họ, thế là đủ, trong cuộc đời hữu hạn này, không cần phải theo tôn giáo nào khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Toan Ánh (1967), Nếp cũ: Tín ngưỡng Việt Nam, (quyển thượng), Nam Chi Tùng Thư xuất bản, in tại Kim Lai Ấn Quán, số 3 đường Nguyễn Siêu, Sài Gòn.
Toan Ánh (1968), Nếp cũ: Tín ngưỡng Việt Nam, (quyển hạ), Nam Chi Tùng Thư xuất bản, in tại Kim Lai Ấn Quán, số 3 đường Nguyễn Siêu, Sài Gòn.
Cầm Trọng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Charles F. Keyes (2006),“Dẫn luận: Sự thăng trầm của nghiên cứu nhân học về tôn giáo”, (Đào Thế Đức dịch, Nguyễn Văn Chính hiệu đính từ: Keyes, Charles F. 2003. “The Decline and Rise of the Anthropological Study of Religion”. Chưa xuất bản), in trong tuyển tập Những vấn đề nhân học tôn giáo, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Đà Nẵng, tr. 7-27.
Charles F. Keyes (2022), Văn hóa tộc người và tôn giáo ở Đông Nam Á, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
Clifford Geertz (2006) “Tôn giáo như một hệ thống văn hóa”, (Trương Huyền Chi dịch, Đức Hạnh hiệu đính từ Geertz, Clifford. 1973 [1966]. “Religion as a Cultural System” trong The Interpretation of Cultures. New York: Basic Books. Trang 87-125), in trong tuyển tập Những vấn đề nhân học tôn giáo, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Đà Nẵng, tr. 308-355.
Hà Văn Đức (2011), Lễ Xên khớ bẻ của người Thái ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
Nhiều tác giả (2006), Những vấn đề nhân học tôn giáo, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Đà Nẵng.
Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (2003), Luật tục Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Quốc hội (2016), Luật tín ngưỡng, tôn giáo, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18 tháng 11 năm 2016.
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1997), Lịch sử Lào, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.