Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản văn hoá của dân tộc ta. Đây là kho văn hoá thành văn duy nhất trước khi có các văn bản bằng chữ La Tinh. Nguồn thư tịch và tư liệu này ghi lại quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cũng như các mặt hoạt động xã hội khác của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Bảo tồn lâu dài và khai thác một cách có phê phán, sáng tạo kho di sản văn hoá này để phục vụ cho sự nghiệp văn hoá xã hội chủ nghĩa ngày nay là nguyên tắc nhất quán trong đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng và nhà nước ta.
Bìa ván in sách Đại Việt sử ký toàn thư (Nguồn: TTLTQGIV)
Chúng ta cảm thấy tự hào khi Đảng và nhà nước ta ngay từ rất sớm, đã coi trọng và đánh giá cao toàn bộ di sản văn hoá dân tộc nói chung và các tác phẩm văn học, nghệ thuật Hán Nôm có giá trị nói riêng, coi đó là những “hạt ngọc”bị che phủ bởi lớp bụi thời gian, là tâm tư tình cảm của một dân tộc anh hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước, là phong tục tập quán, nếp sống và nền văn minh của một nước có truyền thống văn hiến. Trong bài Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay, chủ tịnh Trường Chinh viết: “Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày một phong phú mới dần dần tạo nên”(1).
Chủ tịch Phạm Văn Đồng cũng đã khẳng định: “Tác phẩm văn nghệ của nước ta quý lắm, cần phải đọc, phải học. Đó là vốn quý nhất đối với nước ta. Những tác phẩm văn nghệ đó trải qua nhiều thời đại, nhiều thử thách, vẫn còn sống mãi đên bây giờ và sẽ mãi mãi sau này(2).
Như vậy, các tác phẩm Hán Nôm ưu tú, là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc, có sức sống lâu bền, có sức mạnh tinh thần to lớn, có tác dụng lớn trong quá trình hun đúc tinh thần và ý chí dân tộc, là một nhân tố truyền thống quý báu trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, những giá trị tinh thần mới.
Di sản Hán Nôm của chúng ta, nếu chỉ tính từ bài thơ Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, tới tập thơ lớn Ngục trung nhật ký của chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tới gần một ngàn năm lịch sử. Trong suốt quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm lịch sử nhất định lại có những tác phẩmvà tác giả ưu tú tiêu biểu, xuất hiện như những cột mốc, những tấm gương của lịch sử. Bao thế hệ người Việt Nam vẫn còn rung động khi đọc những áng văn thơ bất hủ như Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ văn của các tác gia như Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Cao Bá Quát…Và, nói như đồng chí Tố Hữu: Vốn cũ còn lại có nhiều giá trị lớn là những sản phẩm văn nghệ của những thời đại thịnh Lý, Trần, Lê, của thời kỳ từ giữa thế kỷ 18 đến nửa thế kỷ 19”(3).
Nhưng ở mọi thời đại, chúng ta đều có những thành tựu lớn về nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học, sử học, triết học…Mỗi lĩnh vực đều có những đỉnh cao đáng tự hào, và điều rất may mắn cho chúng ta ngày nay, là những tác phẩm của các bậc thiên tài ấy một phần vẫn còn giữ được tới ngày nay. Đánh giá tổng quát di sản tinh thần của dân tộc, chủ tịch Trường - Chinh đã nhận định: “Ngô Quyền: quân sự học; Trần Hưng Đạo: quân sự học; Nguyễn Trãi: quân sự học, chính trị học và văn học; Lương Thế Vinh: toán học; Nguyễn Bỉnh Khiêm: triết học; Lãn Ông: y học; Lê Quý Đôn: Văn học, khoa học; Quang Trung: quân sự học, chính trị học; Ngô Thì Nhậm: chính trị học, quân sự học và văn học; Nguyễn Du: văn học; Phan Huy Chú: sử học; Cao Bá Quát: văn học, chính trị học; Nguyễn Đình Chiểu: văn học, chính trị học…Những thiên tài như thế mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang cho giống nòi”(4).
Đánh giá cao những giá trị to lớn của di sản văn hoá dân tộc và các tác phẩm ưu tú của thời đại trước, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến việc sưu tầm và gìn giữ những văn bản giá trị này. Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc Bảo vệ di tích văn hoá( 5). Bác Hồ là người thầy vĩ địa của cách mạng Việt Nam, kết tinh những tinh hoa của các anh hùng dân tộc. Người đã hoạt động thành công trên nhiều lĩnh vực: quân sự, chính trị, văn học…và mọi người không ai có thể quên được Bác là một nhà Hán học nữa. Bác rất quan tâm đến việc kế thừa những tinh hoa của nền văn hoá dân tộc, nhất là trong việc gìn giữ và khai thác các văn bản chữ Hán, Chữ Nôm. Bác đã từng về thăm Côn Sơn và đọc văn bia cùng nhiều di tích lịch sử khác. Điều 4 của sắc lệnh do Bác soạn thảo ghi rõ “Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng giấy má, sách vở có tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử”.(6)
Song song với việc chỉ đạo về tư tưởng, Đảng và Nhà nước đã có những biện pháp về tổ chức để tiến hành sưu tập và gìn giữ các văn bản Hán Nôm. Chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của thủ tướng chính phủ giao nhiệm vụ này cho bộ văn hoá. Quyết định số 311/CP ngày 8-9-1979 của hội đồng chính phủ giao nhiệm vụ sưu tầm và bảo tồn di sản Hán Nôm cho Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Tiếp đó, quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của hội đồng chính phủ cho phép thành lập Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong phạm vi cả nước.
Kết quả của những cố gắng trên đây là chúng ta đã gìn giữ được hàng vạn văn bản Hán Nôm thuộc nhiều loại hình, tiếp tục sưu tầm được nhiều tác phẩm và tài liệu Hán Nôm có giá trị ở trong nước và ở nước ngoài. Điều này, tự nó có tác dụng bác bỏ một cách đầy thuyết phục thái độ miệt thị di sản văn hoá dân tộc, như quan điểm cho rằng “nước An Nam không có một nền văn hoá dân tộc” của tên bồi bút Phạm Quỳnh trước đây, hay cách nhìn bi quan cho rằng di sản văn hoá dân tộc “rất nghèo nàn về phẩm cũng như về lượng”của bọn Trương Tửu sau này.
Trong việc khai thác di sản Hán Nôm, quan điểm của Đảng ta rất rõ ràng: đó là thái độ hết sức trân trọng, đó là tác phong tìm tòi, học hỏi. Tìm tòi học hỏi để phát huy những giá trị tốt đẹp; tìm tòi học hỏi để phê phán những tàn dư của giai cấp bóc lột còn rơi rớt lại. Chủ tịch Trường - Chinh đã chỉ ra rằng: “Chúng ta tìm tòi, học hỏi những tác phẩm văn học nghệ thuật của cha ông ta để lại, nhưng chúng ta phê bình, bổ khuyết những tác phẩm đó và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc(7).
Những tác phẩm Hán Nôm cũng như những di sản văn hoá khác của dân tộc, bao giờ cũng có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Thái độ của chúng ta là kết hợp một cách biện chứng giữ hai mặt: Kế thừa và phê phán, học tập và sáng tạo. Nhưng khai thác những gì? Kế thừa học tập như thế nào? Vấn đề này, trong bài Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay Chủ tịch Trường - Chinh đã vạch rõ: “Về khai thác vốn cổ của dân tộc, vấn đề là phải biết khai thác cái gì và khai thác như thế nào để có ích cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta ngày nay. Chúng ta phải lần lượt nghiên cứu giới thiệu và phê bình những tác phẩm văn học nghệ thuật của cha ông để lại”(8).
Như vậy một mặt, chúng ta phải kế thừa một cách toàn diện phần tinh hoa, mặt khác phê phán triệt để phần lạc hậu trong di sản Hán Nôm trong khi khai thác kho di sản văn hoá thành văn này. Do những điều kiện lịch sử hạn chế và do khuôn khổ của hệ tư tưởng phong kiến ràng buộc, nhiều công trình và tác phẩm cổ có chứa đựng những quan điểm duy tâm siêu hình và thần bí. Do đó chúng ta cần phải chống lại những quan điểm tuyên truyền cho đạo đức và lễ giáo phong kiến nhằm phục hồi những tàn tích cổ hủ, lỗi thời và phản động. Hồ Chủ Tịch đã từng phê phán những khuynh hướng phục hồi vốn cũ không đúng đắn: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì loại dần ra”(9).
Dĩ nhiên, những thái độ nệ cổ, phục cổ hoặc hư vô, miệt thị đối với di sản văn hoá dân tộc nói chung và tác phẩm Hán Nôm nói riêng là hoàn toàn xa lạ đối với đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng ta.
Kế thừa có phê phán, học tập và sáng tạo vốn văn hóa cổ để sáng tạo ra những giá trị tinh thần mới, là nhiệm vụ của chúng ta. Nhưng muốn làm được việc này, phải có một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, và có phẩm chất chính trị cách mạng. Khi bàn về việc tiếp thu di sản văn hoá dân tộc, chủ tịch Phạm Văn Đồng đề ra yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ là “chúng ta cần có những người giỏi và có trình độ cao, có như thế mới sáng tạo, mới sưu tầm một cách có ý thức và nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo vốn cũ. Bởi vì nghệ thuật phải dính vào cái gì là truyền thống lớn nhất của dân tộc(10).
40 năm qua, kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, được sự chỉ dẫn của đường lối cách mạng văn hoá văn nghệ và đường lối khai thác di sản văn hoá dân tộc của Đảng, ngành Hán Nôm đã trưởng thành và đạt được nhiều thành tích có ý nghĩa. Chúng ta đã giám định và công bố hàng loạt tác phẩm Hán Nôm có giá trị, từ những bộ quốc sử đồ sộ như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, những bộ địa dư lớn như Đại Nam nhất thống chí, những bộ sưu tập văn thơ có bề thế như Thơ văn Lý Trần, Nguyễn Trãi toàn tập, Lê Quý Đôn toàn tập, những tác phẩm triết học, tư tưởng có giá trị như Khoá hư lục, những truyện thơ Nôm nổi tiếng như Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên… Tổ chức đào tạo lớp Hán Nôm trẻ, từ lớp Đại học Hán Nôm năm 1965, Ban Hán Nôm 1970, và Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1979… Tổ chức giảng dạy Hán Nôm ở các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và các trường Cao đẳng Sư phạm…. Bảo quản tốt hàng vạn văn bản Hán Nôm đã tập trung được; tiếp tục sưu tầm được hàng chục văn bản Hán Nôm có giá trị ở trong nước và nước ngoài …
Đại hội lần thứ năm của Đảng vạch rõ nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta “có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và có tính nhân dân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nướcvà chủ nghĩ quốc tế vô sản. Nền văn hoá mới vừa kết tinh và nâng lên một tầm cao mới những gì đẹp nhất trong truyền thống bốn nghìn năm của tâm hồn Việt Nam, của văn hoá Việt Nam, vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người, những thành tựu văn hoá, khoa học hiện đại. Nền văn hoá mới kết hợp hài hoà những tinh hoa văn hoá có phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam”(11). Theo nhiệm vụ này, ngành Hán Nôm phải trưởng thành nhanh chóng, đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, đủ sức giải quyết các vấn đề giám định, khai thác bảo quản, sưu tầm các thư tịch và tài liệu Hán Nôm để góp phần vào công cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng vào sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
CHÚ THÍCH
(1) Về văn hoá văn nghệ ( in lần thứ 4). Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 214
(2) Tổ quốc nhân dân ta và người nghệ sĩ (in lần thứ 2). Nxb Văn học Hà Nội, 1973, trang 61.
(3) Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta và thời đại ta, Nxb Văn học, Hà Nội, 1973, trang 62.
(4) Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, trang 171.
(5) (6) Trích theo Trần Kháng: Một số hiện tượng gây nhiều mất mát vốn, di sản văn hoá. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 12, năm 1978, trang 69.
(7) Về văn hóa văn nghệ. Sách đã dẫn, trang 112.
(8) Về văn hoá văn nghệ: sách đã dẫn, trang 212.
(9) Về văn hoá văn nghệ: sách đã dẫn trang 83.
(10) Xây dựng nền văn hoá văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta. Nxb Sự thật. Hà Nội. 1975, trang 98.
(11) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tập 1) Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, trang 93-94.